Lục cát, lục sát, Lộc Tồn và Thiên Mã trong tử vi: quy tắc an sao, ý nghĩa và chỗ các phái khác nhau
Trả lời ngắn: ngoài 14 chính tinh, lá số tử vi có một nhóm phụ tinh quan trọng thường gọi là lục cát tinh (Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt) và lục sát tinh (Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp), cộng thêm Lộc Tồn và Thiên Mã. Chúng được an theo tháng sinh, giờ sinh, can năm hoặc chi năm bằng những quy tắc đếm đơn giản. Điều cần biết trước tiên: chữ "cát" và "sát" là cách gọi truyền thống, không có nghĩa sao sát là tai hoạ hay sao cát là may mắn chắc chắn.
Bài này trình bày quy tắc an từng nhóm sao, áp vào lá số ví dụ đã dùng trong các bài trước (năm Giáp Tý, tháng 3, ngày 10, giờ Ngọ, cung Mệnh ở Tuất), giải thích ý nghĩa truyền thống của từng sao và chỉ ra chỗ các phái khác nhau. Mọi vị trí sao trong ví dụ đã được kiểm lại bằng chương trình máy tính theo đúng quy tắc nêu trong bài.
Phụ tinh đứng ở đâu trong cấu trúc lá số
Có thể hình dung lá số tử vi gồm ba tầng. Tầng một là khung mười hai cung, đã bàn trong bài mười hai cung trên lá số tử vi. Tầng hai là 14 chính tinh, quyết định "tính cách" nền của từng cung. Tầng ba là phụ tinh, đóng vai trò bổ sung, tô đậm hoặc làm lệch đi tính chất của chính tinh.
Số phụ tinh trong các sách tử vi lên tới cả trăm. Nhóm mười bốn sao trong bài này được mọi phái dùng và được coi là quan trọng nhất sau chính tinh. Một lá số chưa có nhóm này thì chưa đọc được theo lối truyền thống.
Nhóm sao an theo tháng sinh: Tả Phù, Hữu Bật
Quy tắc:
- Tả Phù: khởi tháng Giêng ở Thìn, đếm thuận đến tháng sinh.
- Hữu Bật: khởi tháng Giêng ở Tuất, đếm nghịch đến tháng sinh.
Với ví dụ tháng 3: Tả Phù từ Thìn đếm thuận ba bước (Thìn, Tị, Ngọ) dừng ở Ngọ. Hữu Bật từ Tuất đếm nghịch ba bước (Tuất, Dậu, Thân) dừng ở Thân. Hai sao luôn đối xứng nhau qua trục Thìn – Tuất, nên khi biết một sao là suy ra sao kia.
Ý nghĩa truyền thống: Tả Phù và Hữu Bật là hai sao "phò tá", tượng trưng cho sự giúp đỡ, người hỗ trợ, khả năng làm việc cùng người khác. Đọc hiện đại: cung có Tả Hữu là lĩnh vực mà người đó có xu hướng làm việc qua quan hệ và hợp tác.
Nhóm sao an theo giờ sinh: Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp
Quy tắc:
- Văn Xương: khởi giờ Tý ở Tuất, đếm nghịch đến giờ sinh.
- Văn Khúc: khởi giờ Tý ở Thìn, đếm thuận đến giờ sinh.
- Địa Kiếp: khởi giờ Tý ở Hợi, đếm thuận đến giờ sinh.
- Địa Không: khởi giờ Tý ở Hợi, đếm nghịch đến giờ sinh.
Với ví dụ giờ Ngọ, tức giờ thứ bảy tính từ Tý: Văn Xương từ Tuất đếm nghịch sáu bước tới Thìn; Văn Khúc từ Thìn đếm thuận sáu bước tới Tuất; Địa Kiếp từ Hợi đếm thuận sáu bước tới Tị; Địa Không từ Hợi đếm nghịch sáu bước cũng tới Tị. Người sinh giờ Tý hoặc giờ Ngọ luôn có Không Kiếp cùng một cung (Hợi hoặc Tị).
Ý nghĩa truyền thống: Xương Khúc là hai sao văn, gắn với học hành, chữ nghĩa, nghệ thuật, khả năng diễn đạt. Không Kiếp là hai sát tinh, gắn với sự trống rỗng, hao hụt, biến động bất ngờ. Sách xưa cũng ghi Không Kiếp gắn với lối nghĩ khác thường, không theo khuôn; vì thế không nên đọc chúng thuần như sao xấu.
Nhóm sao an theo can năm: Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt
| Can năm | Lộc Tồn | Kình Dương | Đà La | Thiên Khôi | Thiên Việt |
|---|---|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Mão | Sửu | Sửu | Mùi |
| Ất | Mão | Thìn | Dần | Tý | Thân |
| Bính | Tị | Ngọ | Thìn | Hợi | Dậu |
| Đinh | Ngọ | Mùi | Tị | Hợi | Dậu |
| Mậu | Tị | Ngọ | Thìn | Sửu | Mùi |
| Kỷ | Ngọ | Mùi | Tị | Tý | Thân |
| Canh | Thân | Dậu | Mùi | Sửu | Mùi |
| Tân | Dậu | Tuất | Thân | Ngọ | Dần |
| Nhâm | Hợi | Tý | Tuất | Mão | Tị |
| Quý | Tý | Sửu | Hợi | Mão | Tị |
Quy luật dễ nhớ: Lộc Tồn đứng ở vị trí "lộc" của can năm, trùng với bảng Lộc trong bát tự (Giáp lộc tại Dần, Ất lộc tại Mão…). Kình Dương luôn đứng ngay sau Lộc Tồn theo chiều thuận, Đà La ngay trước. Ba sao luôn đi thành một cụm liền nhau.
Với ví dụ năm Giáp: Lộc Tồn ở Dần, Kình Dương ở Mão, Đà La ở Sửu, Thiên Khôi ở Sửu, Thiên Việt ở Mùi.
Ý nghĩa truyền thống: Lộc Tồn là sao của sự tích luỹ, giữ gìn, thường được coi là "lộc bền" chứ không phải lộc bất ngờ. Kình Dương và Đà La là hai sát tinh kẹp hai bên Lộc Tồn, Kình Dương mang tính cứng, va chạm trực diện; Đà La mang tính chậm, vướng víu, dây dưa. Hình ảnh cái kho có hai người gác cổng khó tính là cách nhớ hay được dùng. Thiên Khôi, Thiên Việt là hai sao quý nhân, tượng trưng cho sự nâng đỡ từ người có vị thế.
Dị bản: bảng Khôi Việt có khác biệt giữa các nguồn ở can Canh và can Tân; bảng trên theo bản phổ biến. Khi đối chiếu phần mềm, nên kiểm phần mềm dùng bản nào.
Nhóm sao an theo chi năm: Thiên Mã, Hỏa Tinh, Linh Tinh
Thiên Mã an theo tam hợp chi năm, ở cung "trường sinh" đối diện:
| Chi năm | Thiên Mã tại |
|---|---|
| Thân, Tý, Thìn | Dần |
| Dần, Ngọ, Tuất | Thân |
| Tị, Dậu, Sửu | Hợi |
| Hợi, Mão, Mùi | Tị |
Năm Tý nên Thiên Mã ở Dần. Thiên Mã chỉ bao giờ nằm ở bốn ô Dần, Thân, Tị, Hợi, bốn góc của lá số. Ý nghĩa truyền thống là di chuyển, thay đổi, xuất ngoại, bôn ba.
Hỏa Tinh, Linh Tinh an theo chi năm kết hợp giờ sinh, với chiều đi phụ thuộc âm dương của năm và giới tính ở một số phái. Đây là cặp sao có nhiều dị bản nhất trong nhóm, nên bài không đưa bảng chi tiết; người học nên lấy theo đúng một bộ sách và giữ nhất quán. Ý nghĩa truyền thống: hai sát tinh mang tính nóng nảy, bộc phát (Hỏa) và âm ỉ, kéo dài (Linh).
Vị trí phụ tinh trên lá số ví dụ
| Chi | Cung | Chính tinh | Phụ tinh trong nhóm |
|---|---|---|---|
| Tuất | Mệnh | Vô chính diệu | Văn Khúc |
| Dậu | Huynh Đệ | Liêm Trinh, Phá Quân | Không có |
| Thân | Phu Thê | Không có | Hữu Bật |
| Mùi | Tử Tức | Không có | Thiên Việt |
| Ngọ | Tài Bạch | Không có | Tả Phù |
| Tị | Tật Ách | Tử Vi, Thất Sát | Địa Không, Địa Kiếp |
| Thìn | Thiên Di | Thiên Cơ, Thiên Lương | Văn Xương |
| Mão | Nô Bộc | Thiên Tướng | Kình Dương |
| Dần | Quan Lộc | Thái Dương, Cự Môn | Lộc Tồn, Thiên Mã |
| Sửu | Điền Trạch | Vũ Khúc, Tham Lang | Đà La, Thiên Khôi |
| Tý | Phúc Đức | Thiên Đồng, Thái Âm | Không có |
| Hợi | Phụ Mẫu | Thiên Phủ | Không có |
(Hỏa Tinh, Linh Tinh không ghi vào bảng vì phụ thuộc phái.)
Đọc phụ tinh theo tam phương tứ chính
Cung Mệnh ở Tuất có tam phương tứ chính gồm Tuất (Mệnh), Ngọ (Tài Bạch), Dần (Quan Lộc) và Thìn (Thiên Di). Trong bốn ô này có: Văn Khúc, Tả Phù, Lộc Tồn, Thiên Mã, Văn Xương. Theo lối đọc truyền thống, Mệnh vô chính diệu mượn sao của cung đối diện, ở đây là Thiên Cơ, Thiên Lương; Xương Khúc chiếu nhau qua trục Thìn – Tuất; Lộc Tồn và Thiên Mã cùng ở Quan Lộc, một cách cục sách xưa gọi là "Lộc Mã giao trì".
Đó là cách các sách mô tả cấu trúc. Người viết dừng ở đây vì bước tiếp theo, biến cấu trúc thành lời phán cho một con người cụ thể, là bước có nhiều cách hiểu nhất và ít kiểm chứng được nhất. Ví dụ cụm "Lộc Mã giao trì" thường được giảng là kiếm tiền nhờ di chuyển; nhưng có biết bao nhiêu người kiếm tiền nhờ di chuyển mà lá số không có cụm sao này, và ngược lại.
Các cụm sao hay được nhắc đến
| Cụm | Thành phần | Cách đọc truyền thống | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| Tả Hữu | Tả Phù, Hữu Bật | Có người phò tá, hợp tác | Chỉ đồng cung ở Sửu hoặc Mùi |
| Xương Khúc | Văn Xương, Văn Khúc | Văn chương, học vấn | Không phải chỉ báo điểm thi |
| Khôi Việt | Thiên Khôi, Thiên Việt | Quý nhân nâng đỡ | Có dị bản ở can Canh, Tân |
| Kình Đà kẹp Lộc | Kình Dương, Đà La quanh Lộc Tồn | Có lộc nhưng phải giữ | Luôn xảy ra, vì ba sao đi liền nhau |
| Không Kiếp | Địa Không, Địa Kiếp | Hao hụt, biến động, lối nghĩ khác thường | Đồng cung khi sinh giờ Tý hoặc Ngọ |
| Lộc Mã | Lộc Tồn, Thiên Mã | Lộc đến qua di chuyển | Chỉ đồng cung ở Dần, Thân, Tị, Hợi |
Cột lưu ý cho thấy một điều quan trọng: nhiều "cách cục" nghe đặc biệt thật ra là hệ quả tất yếu của quy tắc an sao. Kình Đà kẹp Lộc xảy ra trên mọi lá số; Không Kiếp đồng cung xảy ra với một phần sáu số người (giờ Tý và giờ Ngọ). Biết điều này giúp người nghe không bị choáng khi ai đó nói "lá số của bạn có cách hiếm".
Sáu bước tự an nhóm phụ tinh
- Ghi tháng sinh âm lịch và giờ sinh theo thứ tự từ Tý (Tý là 1, Ngọ là 7).
- An Tả Phù, Hữu Bật theo tháng.
- An Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp theo giờ.
- Tra can năm để an cụm Lộc Tồn – Kình Dương – Đà La và cặp Khôi Việt.
- Tra chi năm để an Thiên Mã; chọn một bộ sách để an Hỏa, Linh.
- Kiểm nhanh: Tả Hữu đối xứng qua Thìn – Tuất, Xương Khúc đối xứng qua Thìn – Tuất, Kình Đà kẹp sát Lộc Tồn, Thiên Mã nằm ở một trong bốn góc.
Sai lầm thường gặp
- Đọc "sát tinh" là tai hoạ. Mọi lá số đều có đủ sáu sát tinh ở đâu đó. Sách xưa cũng có những trường hợp sát tinh được coi là có ích, như người làm nghề cần quyết đoán.
- Coi "cát tinh" là bảo đảm. Tương tự, mọi lá số đều có đủ sáu cát tinh.
- Đếm sai giờ sinh. Giờ Tý khởi từ 23 giờ; người sinh 23 giờ 30 thuộc giờ Tý của ngày hôm sau theo một số quy ước, ảnh hưởng tới cả ngày sinh lẫn bốn sao an theo giờ.
- Trộn bảng của nhiều phái. Lấy Hỏa Linh của sách này, Khôi Việt của sách kia sẽ cho một lá số không thuộc phái nào.
- Đọc một sao tách khỏi cung và chính tinh. Sách tử vi luôn đọc sao trong tổ hợp; trích một sao ra để phán là cách đọc thiếu.
Khi nào nên hỏi người có chuyên môn
Nếu có người dựa vào Không Kiếp ở Tật Ách hay Kình Dương ở Mệnh để phán về bệnh tật, tai nạn, hãy coi đó là lời nhắc đi khám sức khoẻ định kỳ, không phải lý do để mua lễ giải. Bệnh tật thuộc về bác sĩ; chuyện an toàn giao thông thuộc về thói quen lái xe cẩn thận. Còn nếu muốn học tử vi nghiêm túc, nên tìm thầy chịu giải thích quy tắc an sao và nói rõ mình theo phái nào, thay vì người chỉ đưa ra lời phán. Bài mười bốn chính tinh trong tử vi là phần nền nên đọc trước khi đi sâu vào phụ tinh.
Người muốn có bảng an sao in sẵn để đối chiếu có thể tìm trong mục sách lý học của Vật Phẩm Phong Thủy, và nên chọn sách ghi rõ phái cùng dị bản.