Đại hạn, tiểu hạn và lưu niên trong tử vi: cách tính từng lớp thời gian với một lá số ví dụ
Trả lời ngắn: tử vi đọc thời gian qua ba lớp. Đại hạn là chặng mười năm, bắt đầu ở cung Mệnh từ tuổi bằng số cục, đi thuận với dương nam, âm nữ và đi nghịch với âm nam, dương nữ. Tiểu hạn là cung ứng với từng tuổi, khởi theo tam hợp của chi năm sinh, nam đi thuận, nữ đi nghịch. Lưu niên là lớp của từng năm lịch, xét cung có chi trùng với chi của năm đó cùng bộ tứ hoá theo can năm. Ba lớp chồng lên nhau tạo ra phần "vận hạn" mà người xem tử vi hay hỏi nhất.
Bài này đi tiếp ví dụ đã dùng trong bài cách lập lá số tử vi từng bước: người sinh năm Giáp, tháng 3, ngày 10, giờ Ngọ, cung Mệnh ở Tuất, Hỏa lục cục. Để tính tiểu hạn cần thêm chi năm, bài giả định năm sinh là Giáp Tý. Ví dụ là giả định; mọi vị trí cung, tuổi và can chi trong bài đã được kiểm lại bằng chương trình máy tính. Bài giải thích cách tính và cách đọc, không đưa ra lời phán cho ai.
Thời gian trong tử vi khác thời gian trong bát tự thế nào
Bát tự dùng đại vận là các cặp can chi nối tiếp nhau, suy từ trụ tháng. Tử vi không sinh ra can chi mới cho vận, mà cho vận "đi" qua chính mười hai cung trên lá số. Mỗi chặng đời ứng với một cung, và trong chặng đó, cung ấy cùng tam phương tứ chính của nó được coi như "cung Mệnh tạm thời".
Cách hình dung này giải thích vì sao người xem tử vi hay nói "đại hạn này đi vào cung Quan Lộc": không có nghĩa là mười năm đó chỉ có công việc, mà là các sao của cung Quan Lộc được đọc như bối cảnh nổi bật của chặng đó. Đây là một cấu trúc gọn và đẹp, nhưng cũng là chỗ dễ bị đọc quá tay nhất.
Nhắc lại lá số ví dụ
| Chi | Cung | Can cung | Chính tinh |
|---|---|---|---|
| Tuất | Mệnh (kiêm Thân) | Giáp | Vô chính diệu |
| Dậu | Huynh Đệ | Quý | Liêm Trinh, Phá Quân |
| Thân | Phu Thê | Nhâm | Không có |
| Mùi | Tử Tức | Tân | Không có |
| Ngọ | Tài Bạch | Canh | Không có |
| Tị | Tật Ách | Kỷ | Tử Vi, Thất Sát |
| Thìn | Thiên Di | Mậu | Thiên Cơ, Thiên Lương |
| Mão | Nô Bộc | Đinh | Thiên Tướng |
| Dần | Quan Lộc | Bính | Thái Dương, Cự Môn |
| Sửu | Điền Trạch | Đinh | Vũ Khúc, Tham Lang |
| Tý | Phúc Đức | Bính | Thiên Đồng, Thái Âm |
| Hợi | Phụ Mẫu | Ất | Thiên Phủ |
Can cung suy theo Ngũ hổ độn từ can năm Giáp: ô Dần là Bính, rồi đi thuận; hai ô Tý và Sửu lấy cùng can với Dần và Mão. Can cung sẽ cần đến khi tính tứ hoá của đại hạn.
Đại hạn: chặng mười năm
Bước 1: xác định chiều đi
Can Giáp là can dương. Người nam sinh năm dương gọi là dương nam, đại hạn đi thuận chiều kim đồng hồ trên lá số (Tuất sang Hợi sang Tý). Người nữ sinh năm dương gọi là dương nữ, đại hạn đi nghịch (Tuất sang Dậu sang Thân). Âm nam đi nghịch, âm nữ đi thuận.
Bước 2: xác định tuổi khởi hạn
Số cục là tuổi bắt đầu đại hạn đầu tiên, tính theo tuổi mụ. Hỏa lục cục nên đại hạn đầu từ 6 đến 15 tuổi, đặt tại cung Mệnh. Thủy nhị cục thì khởi từ 2 tuổi, Mộc tam cục từ 3 tuổi, Kim tứ cục từ 4 tuổi, Thổ ngũ cục từ 5 tuổi.
Bước 3: xếp các chặng
| Tuổi | Dương nam (thuận) | Dương nữ (nghịch) |
|---|---|---|
| 6 – 15 | Tuất, Mệnh | Tuất, Mệnh |
| 16 – 25 | Hợi, Phụ Mẫu | Dậu, Huynh Đệ |
| 26 – 35 | Tý, Phúc Đức | Thân, Phu Thê |
| 36 – 45 | Sửu, Điền Trạch | Mùi, Tử Tức |
| 46 – 55 | Dần, Quan Lộc | Ngọ, Tài Bạch |
| 56 – 65 | Mão, Nô Bộc | Tị, Tật Ách |
| 66 – 75 | Thìn, Thiên Di | Thìn, Thiên Di |
| 76 – 85 | Tị, Tật Ách | Mão, Nô Bộc |
Một nhận xét đơn giản nhưng hay bị quên: hai người cùng ngày giờ sinh, khác giới tính, có cùng lá số gốc nhưng đi qua các cung theo hai trình tự ngược nhau. Chỉ đến chặng 66 – 75 hai chiều mới gặp nhau ở cung đối diện cung Mệnh.
Tiểu hạn: cung của từng tuổi
Tiểu hạn chỉ cung ứng với một tuổi cụ thể. Phép an phổ biến trong tử vi Việt Nam khởi tuổi 1 theo tam hợp của chi năm sinh:
| Chi năm sinh (tam hợp) | Tuổi 1 khởi tại |
|---|---|
| Thân, Tý, Thìn | Tuất |
| Dần, Ngọ, Tuất | Thìn |
| Tị, Dậu, Sửu | Mùi |
| Hợi, Mão, Mùi | Sửu |
Từ cung khởi, nam đếm thuận, nữ đếm nghịch, mỗi ô một tuổi. Năm Giáp Tý thuộc nhóm Thân Tý Thìn nên tuổi 1 ở Tuất. Với người nam: tuổi 2 ở Hợi, tuổi 3 ở Tý, và cứ mười hai năm quay lại Tuất một lần (tuổi 13, 25, 37…). Tuổi 30 của người nam rơi vào Mão, tức cung Nô Bộc; của người nữ rơi vào Tị, tức cung Tật Ách.
Lưu ý: một số phái gọi tiểu hạn và "lưu niên" lẫn với nhau, và có phái không dùng tiểu hạn theo kiểu trên. Khi đọc sách, nên kiểm tác giả dùng định nghĩa nào trước khi so kết quả.
Lưu niên: lớp của từng năm lịch
Lưu niên, nhiều sách gọi là lưu Thái Tuế, không phụ thuộc người: năm Tị thì xét ô Tị, năm Ngọ thì xét ô Ngọ, với mọi lá số. Cái riêng của từng người là ô đó mang tên cung gì trên lá số của họ. Kèm theo là bộ tứ hoá của can năm, gọi là lưu niên tứ hoá, đã được bàn trong bài tứ hoá Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ.
Với ví dụ, người sinh năm Giáp Tý đến tuổi mụ 30 là năm Quý Tị. Lưu niên ở ô Tị, tức cung Tật Ách có Tử Vi, Thất Sát. Can Quý cho lưu niên tứ hoá: Phá Quân hoá Lộc, Cự Môn hoá Quyền, Thái Âm hoá Khoa, Tham Lang hoá Kỵ.
Chồng ba lớp lên nhau: một năm cụ thể
Ghép lại cho người nam trong ví dụ, ở tuổi mụ 30 (năm Quý Tị):
| Lớp | Vị trí | Nội dung trên lá số |
|---|---|---|
| Đại hạn 26 – 35 | Tý, Phúc Đức, can Bính | Thiên Đồng, Thái Âm. Đại hạn tứ hoá theo can Bính: Thiên Đồng Lộc, Thiên Cơ Quyền, Văn Xương Khoa, Liêm Trinh Kỵ |
| Tiểu hạn tuổi 30 | Mão, Nô Bộc | Thiên Tướng |
| Lưu niên Quý Tị | Tị, Tật Ách | Tử Vi, Thất Sát. Lưu niên tứ hoá: Phá Quân Lộc, Cự Môn Quyền, Thái Âm Khoa, Tham Lang Kỵ |
Người xem tử vi theo lối truyền thống sẽ đọc bảng này theo thứ tự: đại hạn cho bối cảnh mười năm, tiểu hạn và lưu niên cho điểm nhấn trong năm, tứ hoá cho biết sao nào được "kích hoạt". Ví dụ, Hoá Kỵ của đại hạn rơi vào Liêm Trinh ở cung Huynh Đệ; Hoá Kỵ của lưu niên rơi vào Tham Lang ở cung Điền Trạch.
Bài này dừng ở việc chỉ ra vị trí, không luận tốt xấu. Lý do: cùng một bảng như trên, ba người xem có thể cho ba lời giải khác nhau tuỳ phái, và phần lớn lời giải không kiểm chứng được. Thứ kiểm chứng được là phép tính.
Bảy bước tự tính vận hạn trên lá số của mình
- Lập lá số gốc đúng: tháng, ngày âm lịch theo lịch Việt Nam, giờ sinh đúng canh giờ.
- Ghi can cho mười hai cung theo Ngũ hổ độn.
- Xác định âm dương của can năm và giới tính để biết chiều đại hạn.
- Viết tuổi khởi đại hạn bằng số cục, xếp các chặng mười năm.
- Tra nhóm tam hợp của chi năm sinh để có cung khởi tiểu hạn, đếm theo giới tính.
- Với năm cần xem, tìm ô có chi của năm và bộ tứ hoá theo can năm.
- Viết ba lớp vào một bảng như trên, rồi đối chiếu với một phần mềm lập lá số để kiểm.
Những chỗ các phái khác nhau
- Tuổi mụ hay tuổi tròn. Phần lớn sách Việt tính theo tuổi mụ; một số tài liệu hiện đại tính theo tuổi thực. Chênh một năm làm lệch toàn bộ ranh giới đại hạn.
- Đại hạn khởi ở cung Mệnh hay cung kế bên. Có phái cho đại hạn đầu ở cung kề cung Mệnh theo chiều đi. Bài này theo lối phổ biến khởi ở cung Mệnh.
- Có dùng tiểu hạn hay không. Một số phái chỉ dùng đại hạn và lưu niên, coi tiểu hạn là thừa.
- Tứ hoá của đại hạn. Phái chú trọng phi hoá dùng can cung đại hạn để tạo một bộ tứ hoá riêng như bảng trên; phái khác không dùng.
- Dị bản bảng tứ hoá ở vài can, như bài về tứ hoá đã nêu.
Mỗi lựa chọn đều thay đổi kết quả. Đây là lý do một người đi xem ở hai nơi có thể nghe hai câu khác hẳn nhau về cùng một năm.
Đọc "hạn" cho tỉnh táo
Chữ "hạn" trong tiếng Việt gợi đến tai hoạ, nên người nghe "năm nay vào hạn xấu" dễ hoảng. Trong tử vi, đại hạn và tiểu hạn trước hết chỉ là đơn vị thời gian, như chữ "chặng" hay "kỳ". Cung nào cũng sẽ đến lượt mình, ai cũng sẽ đi qua cung Tật Ách hay cung có Hoá Kỵ ở một lúc nào đó.
Ba dấu hiệu cho thấy lời đọc vận hạn đang đi quá tay:
- Lời phán cụ thể đến ngày tháng, tên bệnh, con số tiền, trong khi lá số chỉ là tổ hợp sao.
- Lời phán đi kèm một gói "giải hạn" có giá, với lời giục làm ngay.
- Lời phán khiến người nghe bỏ qua việc thực tế cần làm, như khám bệnh, ký hợp đồng có luật sư xem.
Bài tử vi mạnh ở đâu, yếu ở đâu có bàn thêm về giới hạn của lá số và hiệu ứng Barnum.
Sai lầm thường gặp khi tự tính vận hạn
- Lấy năm sinh theo dương lịch cho người sinh trước Tết, làm sai cả can năm, chiều đi và tứ hoá.
- Nhầm âm dương của can: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là dương; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là âm.
- Đếm tiểu hạn từ cung Mệnh thay vì từ cung khởi theo tam hợp.
- Gán ô của lưu niên theo cung Mệnh của người xem thay vì theo chi của năm.
- Quên rằng ranh giới đại hạn tính theo tuổi mụ, nên năm đổi đại hạn có thể khác năm người ta nghĩ.
Khi nào nên hỏi người có chuyên môn
Nếu một lời đọc vận hạn khiến mình lo âu kéo dài, mất ngủ, hoặc định đưa ra quyết định lớn như bỏ việc, bán nhà, hoãn chữa bệnh, thì nên dừng lại và hỏi người có chuyên môn đúng việc: bác sĩ cho sức khoẻ, luật sư cho hợp đồng và tranh chấp, người tư vấn tài chính hoặc tự lập kế hoạch cho chuyện tiền bạc, chuyên gia tâm lý khi lo âu không dứt. Tử vi có thể là một cách nhìn lại đời mình theo từng chặng; nó không thay được các chuyên môn ấy.
Người muốn tự học phép an hạn có thể đối chiếu với sách hướng dẫn trong mục sách lý học của Vật Phẩm Phong Thủy; nên ghi rõ sách theo phái nào để không lẫn quy tắc giữa các nguồn.