Cách cục bát tự theo lối Tử Bình: xác định Chính Quan, Thất Sát, Tài, Ấn, Thực, Thương qua ví dụ đã kiểm
Trả lời ngắn: cách cục là cách phân loại một lá bát tự theo "khí chủ" của tháng sinh. Theo lối Tử Bình, người luận lấy địa chi tháng, xem các can tàng trong đó, ưu tiên can nào lộ ra trên thiên can, rồi gọi tên quan hệ của can ấy với nhật chủ: Chính Quan cách, Thất Sát cách, Chính Tài, Thiên Tài, Chính Ấn, Thiên Ấn, Thực Thần, Thương Quan. Tháng sinh là Lộc hay Dương Nhận của nhật chủ thì thành Kiến Lộc cách, Dương Nhận cách. Cách cục cho biết lá số "xoay quanh" điều gì, còn dụng thần cho biết cần gì để cân bằng; hai khái niệm đi cùng nhau nhưng không phải một.
Bài này đi trọn một ví dụ mới, nói rõ quy tắc xác định cách, cách đọc bốn cách "thuận" và bốn cách "nghịch", những cách đặc biệt, và chỗ các trường phái bất đồng. Tứ trụ, thập thần và tàng can trong bài đã được tính lại bằng chương trình máy tính. Ví dụ là giả định, chỉ để minh hoạ phương pháp; bài không phán về con người thật nào.
Vì sao cần đến cách cục
Một lá bát tự có tám chữ, mỗi chữ có thể mang một hoặc nhiều thập thần, cộng với tàng can trong địa chi. Nếu đọc từng chữ một, người luận sẽ bị ngợp trong mười mấy mối quan hệ, và rất dễ nói kiểu "chỗ này có Tài, chỗ kia có Quan" mà không có trọng tâm.
Cách cục là cách tìm trọng tâm. Ý tưởng rất cổ: tháng sinh là "lệnh" của mùa, khí của tháng là khí mạnh nhất trong lá số, nên quan hệ giữa khí đó với nhật chủ là trục chính. Các bộ sách như Tử Bình Chân Thuyên đặt cách cục làm nền; còn Trích Thiên Tủy và nhiều thầy hiện đại thì nặng về phép phù ức, cân mạnh yếu. Bài dụng thần trong bát tự đã nói về phù ức và điều hậu; bài này bàn phía cách cục.
Ví dụ dùng trong bài
Một người nữ sinh 7 giờ 20 sáng ngày 14/3/1988 tại Huế. Các bước:
- Trụ năm: năm 1988 đã qua Lập xuân (khoảng tối 4/2/1988), nên là Mậu Thìn.
- Trụ tháng: ngày 14/3 nằm sau Kinh trập (chiều 5/3/1988) và trước Thanh minh (tối 4/4/1988), thuộc tháng Mão. Năm Mậu thì tháng Dần là Giáp Dần theo Ngũ hổ độn, nên tháng Mão là Ất Mão.
- Trụ ngày: tính bằng số ngày Julius ra Mậu Thìn. Nhật chủ là Mậu Thổ.
- Trụ giờ: 7 giờ 20 thuộc giờ Thìn (7 – 9 giờ). Huế ở kinh độ khoảng 107,6 độ Đông, giờ mặt trời giữa tháng 3 chênh với đồng hồ không đáng kể, nên vẫn là giờ Thìn. Ngày Mậu thì giờ Tý là Nhâm Tý, đếm tới Thìn là Bính Thìn.
| Năm | Tháng | Ngày | Giờ | |
|---|---|---|---|---|
| Thiên can | Mậu (Tỷ Kiên) | Ất (Chính Quan) | Mậu (nhật chủ) | Bính (Thiên Ấn) |
| Địa chi | Thìn | Mão | Thìn | Thìn |
| Tàng can | Mậu, Ất, Quý | Ất | Mậu, Ất, Quý | Mậu, Ất, Quý |
Quy tắc xác định cách, từng bước
- Lấy địa chi tháng. Ví dụ: Mão.
- Liệt kê tàng can của chi tháng theo thứ tự bản khí, trung khí, dư khí. Mão chỉ có Ất. Bảng tàng can đầy đủ có trong bài tàng can trong địa chi.
- Xem can nào lộ ra trên thiên can (gọi là "thấu"). Ất lộ ngay ở can tháng.
- Chọn can làm cách: nếu bản khí thấu, lấy bản khí; nếu bản khí không thấu mà trung khí hay dư khí thấu, nhiều sách lấy can thấu đó; nếu không can nào thấu, lấy bản khí.
- Gọi tên thập thần của can đó với nhật chủ. Ất là Mộc âm, khắc Mậu là Thổ dương; khắc mình mà khác âm dương là Chính Quan.
- Kiểm ngoại lệ: nếu chi tháng là Lộc hay Dương Nhận của nhật chủ, hoặc can được chọn là Tỷ Kiên, Kiếp Tài, thì không gọi theo thập thần mà dùng Kiến Lộc, Dương Nhận, hoặc tìm cách khác theo quy tắc riêng của từng sách.
Kết luận với ví dụ: Chính Quan cách, và là một Chính Quan "thấu thanh", tức lộ rõ, không bị trộn với cách khác. Đây là một ví dụ dễ, được chọn để quy tắc hiện rõ.
Bốn cách thuận dụng và bốn cách nghịch dụng
Lối Tử Bình chia các cách thành hai nhóm. Nhóm "tứ cát thần" gồm Chính Quan, Tài (Chính và Thiên), Ấn (Chính Ấn), Thực Thần, nên "thuận dụng": bảo vệ, nuôi dưỡng cách đó. Nhóm "tứ hung thần" gồm Thất Sát, Thương Quan, Thiên Ấn (khi gọi là Kiêu thần), Dương Nhận, nên "nghịch dụng": chế ngự, điều hoà cách đó. Chữ "cát" và "hung" ở đây là thuật ngữ kỹ thuật, nói về tính chất của lực, không phải nói người đó tốt hay xấu.
| Cách | Nhóm | Lối xử lý kinh điển | Điều kỵ theo sách |
|---|---|---|---|
| Chính Quan | Thuận | Có Tài sinh Quan, có Ấn hộ Quan | Thương Quan khắc Quan, Quan Sát lẫn lộn |
| Tài (Chính, Thiên) | Thuận | Thân đủ mạnh để giữ Tài, Tài sinh Quan | Tỷ Kiếp tranh Tài khi thân yếu |
| Chính Ấn | Thuận | Quan Sát sinh Ấn | Tài phá Ấn |
| Thực Thần | Thuận | Thực Thần sinh Tài | Kiêu thần đoạt Thực |
| Thất Sát | Nghịch | Thực Thần chế Sát, hoặc Ấn hoá Sát | Sát mạnh không chế, Tài sinh Sát khi thân yếu |
| Thương Quan | Nghịch | Thương Quan sinh Tài, hoặc Thương Quan phối Ấn | Thương Quan gặp Quan |
| Thiên Ấn (Kiêu) | Nghịch | Có Tài chế Kiêu | Kiêu gặp Thực Thần |
| Dương Nhận | Nghịch | Dùng Quan Sát chế Nhận | Không có gì chế |
Đọc bảng như đọc một bộ quy tắc cân bằng: lực "lành" thì nuôi, lực "dữ" thì kìm, và mỗi cách có một cặp "đồng minh" và "kẻ phá" quen thuộc. Bài nhật chủ và thập thần có giải thích vì sao Thất Sát và Thương Quan hay bị hiểu sai.
Đọc lại ví dụ theo cách cục
Với ví dụ Chính Quan cách, người luận theo Tử Bình sẽ hỏi lần lượt:
- Quan có bị phá không? Không có Thương Quan (Tân Kim) lộ ra; Quan không bị khắc. Cũng không có Thất Sát (Giáp Mộc) lộ ra cạnh Quan, nên không bị "Quan Sát hỗn tạp".
- Quan có người hộ không? Bính Hỏa ở giờ là Thiên Ấn. Quan sinh Ấn, Ấn sinh thân: chuỗi Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, gọi là "Quan Ấn tương sinh", một tổ hợp được sách cổ đánh giá cao.
- Thân có gánh được Quan không? Mậu Thổ sinh tháng Mão, mùa xuân Mộc vượng, Thổ ở thế yếu theo mùa. Nhưng ba chi Thìn đều tàng Mậu Thổ làm gốc, năm có Mậu Tỷ Kiên trợ, giờ có Bính Ấn sinh. Thân không yếu.
- Có Tài sinh Quan không? Tài của Mậu là Thủy. Quý Thủy chỉ tàng trong ba chi Thìn, không lộ. Tài yếu và kín.
Mô tả cấu trúc: một lá Chính Quan cách, Quan thanh, có Ấn tiếp, thân có gốc, Tài yếu. Người viết dừng ở mô tả cấu trúc. Bước tiếp theo, đổi cấu trúc thành lời về tính cách, nghề nghiệp, hôn nhân, là bước có nhiều cách giảng nhất và ít kiểm chứng được nhất.
Một ví dụ đối chiếu: Chính Ấn cách
Ví dụ trong bài cách lập tứ trụ có tứ trụ Ất Hợi, Giáp Thân, Quý Mùi, Canh Thân, nhật chủ Quý Thủy. Chi tháng Thân tàng Canh (bản khí), Nhâm, Mậu. Canh lộ ở can giờ. Canh là Kim dương sinh Quý là Thủy âm; sinh mình mà khác âm dương là Chính Ấn. Lá này thuộc Chính Ấn cách.
Trên can còn có Giáp Thương Quan ở tháng và Ất Thực Thần ở năm. Theo lối Tử Bình, Ấn cách mà Thương Thực lộ thì Ấn có việc để "chế" Thương Quan; người luận sẽ cân xem Ấn và Thương Quan bên nào mạnh. Hai ví dụ đặt cạnh nhau cho thấy: cùng phương pháp, cách khác thì câu hỏi tiếp theo cũng khác.
Những cách đặc biệt
- Kiến Lộc cách: chi tháng là Lộc của nhật chủ, ví dụ Giáp sinh tháng Dần. Không gọi theo thập thần vì chi tháng chỉ là "bản thân" của nhật chủ; người luận tìm Tài, Quan, Thực ở nơi khác để dùng.
- Dương Nhận cách: chi tháng là Dương Nhận của nhật chủ dương, ví dụ Giáp sinh tháng Mão, Bính hay Mậu sinh tháng Ngọ. Thường cần Quan Sát chế.
- Tòng cách: nhật chủ cực yếu, không có gốc, phải thuận theo lực mạnh nhất. Bài về dụng thần đã nhắc tới.
- Hoá khí cách: can ngày hợp với can kề bên và hoá thành hành khác khi đủ điều kiện mùa. Đây là phần tranh luận nhiều, điều kiện "hoá thật" khác nhau theo từng thầy.
- Các ngoại cách có tên đẹp trong sách cũ, nhiều cách dựa vào điều kiện rất hẹp. Người học nên nắm vững chính cách trước.
Cách cục và dụng thần khác nhau thế nào
| Cách cục | Dụng thần | |
|---|---|---|
| Trả lời câu hỏi | Lá số xoay quanh lực nào? | Lá số cần thêm hay bớt gì để cân bằng? |
| Căn cứ chính | Chi tháng và can thấu | Mạnh yếu của nhật chủ, nóng lạnh theo mùa |
| Sách tiêu biểu | Tử Bình Chân Thuyên | Trích Thiên Tủy, Cùng Thông Bảo Giám |
| Rủi ro khi dùng một mình | Bỏ qua thế mạnh yếu thực tế | Mất trọng tâm, dụng thần đổi theo người luận |
Nhiều người luận giỏi dùng cả hai: xác định cách trước để có trục, rồi cân mạnh yếu để biết trục đó cần được nuôi hay kìm. Khi hai phương pháp cho kết luận khác nhau, chính sự khác nhau đó là thông tin: lá số không đơn giản, đừng tin lời phán chắc nịch.
Sai lầm thường gặp khi định cách
- Lấy can tháng làm cách mà không xét chi tháng. Can tháng có thể không phải khí của tháng; cách luôn bắt đầu từ chi tháng.
- Lập trụ tháng sai ranh giới tiết. Người sinh gần Kinh trập, Thanh minh hay bất kỳ tiết nào phải kiểm giờ giao tiết; lệch một tháng là đổi cả cách.
- Coi "cách tốt" là "đời tốt". Chính Quan cách không có nghĩa làm quan; Thất Sát cách không có nghĩa nóng nảy hay gặp nạn. Các tên gọi là thuật ngữ quan hệ ngũ hành.
- Thấy tên cách hiếm thì choáng. Ngoại cách nghe kêu nhưng điều kiện rất chặt; nhiều lời "lá số đặc biệt" chỉ là chiêu tạo ấn tượng.
- Trộn quy tắc của nhiều sách. Mỗi sách có thứ tự ưu tiên can thấu và định nghĩa ngoại cách riêng.
Tự luyện định cách trong năm bước
- Lập tứ trụ đúng, kiểm bằng hai phần mềm.
- Viết tàng can của chi tháng theo thứ tự bản khí, trung khí, dư khí.
- Gạch chân can nào xuất hiện trên bốn thiên can.
- Áp quy tắc chọn can làm cách, gọi tên thập thần, kiểm ngoại lệ Lộc, Nhận.
- Tra bảng thuận nghịch để biết câu hỏi tiếp theo: tìm đồng minh và kẻ phá của cách đó trong lá số.
Luyện với mười lá số của người quen (xin phép trước), chỉ dừng ở mô tả cấu trúc, là cách học nhanh nhất mà không rơi vào phán đoán.
Khi nào nên hỏi người có chuyên môn
Định cách là phần kỹ thuật, có thể tự học. Nhưng khi một lời luận cách cục được dùng để khuyên đổi nghề, chọn người kết hôn, hay đầu tư lớn, hãy đặt nó cạnh lời khuyên của người có chuyên môn thật: chuyên gia hướng nghiệp, chuyên gia tâm lý, người tư vấn tài chính. Còn nếu muốn học sâu cổ văn, nên đọc bản dịch có chú giải của Tử Bình Chân Thuyên và Trích Thiên Tủy, hoặc theo học người đọc được nguyên văn chữ Hán.
Ai cần bản dịch các sách bát tự kinh điển để đối chiếu có thể tìm trong mục sách lý học của Vật Phẩm Phong Thủy, nên ưu tiên bản có kèm nguyên văn và ghi rõ người dịch.