Thần sát và không vong trong bát tự: Quý nhân, Đào Hoa, Dịch Mã, Hoa Cái và vì sao nên dùng dè dặt
Trả lời ngắn: thần sát là các "sao" phụ trong bát tự, an theo những bảng tra cố định dựa vào can ngày, can năm, chi năm hoặc chi ngày: Thiên Ất quý nhân, Văn Xương, Lộc, Dương Nhận, Đào Hoa, Dịch Mã, Hoa Cái, Cô Thần, Quả Tú. Không vong là hai địa chi bị "trống" trong mỗi tuần mười ngày của vòng hoa giáp. Các sách bát tự thiên về lý luận ngũ hành, như Tử Bình Chân Thuyên, coi thần sát là phần phụ, chỉ để tham khảo sau khi đã luận xong cách cục và mạnh yếu. Đọc thần sát như lời phán độc lập là cách dễ bị dẫn dắt nhất.
Bài này trình bày quy tắc an các thần sát phổ biến, cách tính không vong, áp lên hai lá số ví dụ đã dùng ở các bài trước, rồi bàn vì sao giới nghiên cứu bát tự chia làm hai phe về thần sát. Mọi vị trí trong ví dụ đã được kiểm lại bằng chương trình máy tính.
Thần sát là gì và đến từ đâu
Thần sát là một lớp ký hiệu rất cổ, có trước cả bát tự bốn trụ. Thuật xem ngày, xem năm thời trước đã dùng các tên như Thái Tuế, Dịch Mã, Đào Hoa để gắn ý nghĩa cho từng chi. Khi phép luận mệnh bằng can chi phát triển, các bảng này được đưa vào lá số. Số thần sát trong các sách lên tới hàng trăm; nhiều cái trùng nhau hoặc mâu thuẫn nhau.
Điểm cần nắm: thần sát không phải là quan hệ ngũ hành. Thiên Ất quý nhân không sinh, không khắc nhật chủ; nó chỉ là một vị trí tra bảng. Vì vậy nó nằm ngoài khung lý luận chính của bát tự, khung đã trình bày trong bài nhật chủ và thập thần.
Bảng tra theo can: Quý nhân, Văn Xương, Lộc, Dương Nhận
Các thần sát này thường tra theo can ngày; một số phái tra thêm theo can năm.
| Can | Thiên Ất quý nhân | Văn Xương | Lộc | Dương Nhận |
|---|---|---|---|---|
| Giáp | Sửu, Mùi | Tị | Dần | Mão |
| Ất | Tý, Thân | Ngọ | Mão | (xem ghi chú) |
| Bính | Hợi, Dậu | Thân | Tị | Ngọ |
| Đinh | Hợi, Dậu | Dậu | Ngọ | (xem ghi chú) |
| Mậu | Sửu, Mùi | Thân | Tị | Ngọ |
| Kỷ | Tý, Thân | Dậu | Ngọ | (xem ghi chú) |
| Canh | Sửu, Mùi | Hợi | Thân | Dậu |
| Tân | Ngọ, Dần | Tý | Dậu | (xem ghi chú) |
| Nhâm | Mão, Tị | Dần | Hợi | Tý |
| Quý | Mão, Tị | Mão | Tý | (xem ghi chú) |
Ghi chú: Dương Nhận theo nhiều sách chỉ áp cho năm can dương, đứng ngay sau Lộc. Với can âm, các sách không thống nhất, nên bảng để trống. Bảng Thiên Ất quý nhân cũng có dị bản ở can Canh và Tân; bảng trên theo câu khẩu quyết phổ biến nhất.
Bảng tra theo chi: Đào Hoa, Dịch Mã, Hoa Cái, Cô Thần, Quả Tú
Các thần sát này tra theo nhóm tam hợp của chi năm hoặc chi ngày.
| Nhóm chi | Đào Hoa | Dịch Mã | Hoa Cái |
|---|---|---|---|
| Thân, Tý, Thìn | Dậu | Dần | Thìn |
| Dần, Ngọ, Tuất | Mão | Thân | Tuất |
| Tị, Dậu, Sửu | Ngọ | Hợi | Sửu |
| Hợi, Mão, Mùi | Tý | Tị | Mùi |
Quy luật dễ nhớ: Hoa Cái là chi "mộ" cuối của nhóm tam hợp; Dịch Mã là chi đứng đầu nhóm tam hợp đối diện; Đào Hoa là chi "mộc dục" của nhóm, luôn là một trong bốn chi Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Cô Thần và Quả Tú tra theo nhóm phương của chi năm: Hợi Tý Sửu thì Cô Thần ở Dần, Quả Tú ở Tuất; Dần Mão Thìn thì Cô Thần ở Tị, Quả Tú ở Sửu; Tị Ngọ Mùi thì Cô Thần ở Thân, Quả Tú ở Thìn; Thân Dậu Tuất thì Cô Thần ở Hợi, Quả Tú ở Mùi.
Không vong: hai chi trống trong mỗi tuần
Vòng sáu mươi hoa giáp chia thành sáu "tuần", mỗi tuần mười ngày bắt đầu bằng một can Giáp. Mười can ghép với mười hai chi thì luôn dư ra hai chi không được ghép trong tuần đó. Hai chi dư ấy gọi là không vong của tuần.
| Tuần | Gồm các ngày | Không vong |
|---|---|---|
| Giáp Tý | Giáp Tý đến Quý Dậu | Tuất, Hợi |
| Giáp Tuất | Giáp Tuất đến Quý Mùi | Thân, Dậu |
| Giáp Thân | Giáp Thân đến Quý Tị | Ngọ, Mùi |
| Giáp Ngọ | Giáp Ngọ đến Quý Mão | Thìn, Tị |
| Giáp Thìn | Giáp Thìn đến Quý Sửu | Dần, Mão |
| Giáp Dần | Giáp Dần đến Quý Hợi | Tý, Sửu |
Cách tính nhanh, không cần thuộc bảng:
- Lấy trụ ngày, đếm lùi về can Giáp gần nhất. Ví dụ Mậu Thìn: lùi Đinh Mão, Bính Dần, Ất Sửu, Giáp Tý.
- Tuần bắt đầu bằng Giáp Tý thì kết thúc ở Quý Dậu.
- Hai chi đứng sau Dậu là Tuất và Hợi. Đó là không vong.
Không vong là một ý tưởng thuần tuý số học, sinh ra từ việc 10 và 12 không bằng nhau, như bài thập can, thập nhị chi và vòng hoa giáp đã giải thích. Ý nghĩa truyền thống: chi rơi vào không vong thì "trống", lực của nó bị coi là giảm, cả điều tốt lẫn điều xấu.
Áp vào ví dụ thứ nhất: Mậu Thìn, Ất Mão, Mậu Thìn, Bính Thìn
Đây là lá số người nữ sinh 7 giờ 20 ngày 14/3/1988 tại Huế, đã dùng trong bài về cách cục bát tự theo lối Tử Bình. Nhật chủ Mậu, chi năm và chi ngày đều là Thìn.
| Thần sát | Vị trí theo bảng | Có trong tứ trụ? |
|---|---|---|
| Thiên Ất quý nhân (can Mậu) | Sửu, Mùi | Không |
| Văn Xương (Mậu) | Thân | Không |
| Lộc (Mậu) | Tị | Không |
| Dương Nhận (Mậu) | Ngọ | Không |
| Đào Hoa (Thìn) | Dậu | Không |
| Dịch Mã (Thìn) | Dần | Không |
| Hoa Cái (Thìn) | Thìn | Có, ba lần: năm, ngày, giờ |
| Cô Thần, Quả Tú (Thìn) | Tị, Sửu | Không |
| Không vong (ngày Mậu Thìn) | Tuất, Hợi | Không |
Lá số này gần như "trắng" thần sát, chỉ có Hoa Cái lặp lại. Sách xưa gắn Hoa Cái với nghệ thuật, tôn giáo, sự cô độc trong suy tư. Nhưng hãy để ý: lá số có ba chi Thìn thì Hoa Cái xuất hiện ba lần là hệ quả tất yếu của bảng tra, không phải một dấu hiệu hiếm.
Thần sát qua đại vận
Người nữ sinh năm Mậu (can dương) đi đại vận nghịch từ trụ tháng Ất Mão: Giáp Dần, Quý Sửu, Nhâm Tý, Tân Hợi, Canh Tuất, Kỷ Dậu. Từ lúc sinh lùi về Kinh trập khoảng 8,7 ngày, ba ngày quy một năm, nên vận khởi khoảng 3 tuổi (tuỳ cách làm tròn của từng phái). Lúc này các thần sát vắng mặt trong tứ trụ lại "đến" theo vận: Dịch Mã ở vận Giáp Dần, Quý nhân ở vận Quý Sửu, không vong ở hai vận Tân Hợi và Canh Tuất, Đào Hoa ở vận Kỷ Dậu.
Người luận theo thần sát sẽ dựng lên một câu chuyện cho từng chặng: tuổi nhỏ hay đi lại, tuổi đôi mươi gặp quý nhân, tuổi ba mươi, bốn mươi "rơi vào không vong". Câu chuyện nghe rất khớp, và đó chính là chỗ cần cảnh giác: mọi lá số đều có thần sát rải đều trên các vận, nên ai cũng nhận được một câu chuyện như thế.
Áp vào ví dụ thứ hai: Ất Hợi, Giáp Thân, Quý Mùi, Canh Thân
Nhật chủ Quý, chi năm Hợi, chi ngày Mùi. Thiên Ất quý nhân tra theo can ngày Quý là Mão, Tị, không có trong tứ trụ; nhưng tra theo can năm Ất lại là Tý, Thân, và Thân xuất hiện hai lần. Không vong của ngày Quý Mùi (tuần Giáp Tuất) là Thân, Dậu: chính hai chi Thân đó lại rơi vào không vong. Hoa Cái theo nhóm Hợi Mão Mùi là Mùi, có ở trụ ngày. Đào Hoa là Tý, Dịch Mã là Tị, đều vắng.
Một chi vừa là "quý nhân" vừa là "không vong": phe dùng thần sát sẽ tranh luận quý nhân này có "thật" không. Ví dụ này cho thấy vì sao lớp thần sát dễ sinh ra những lời giải ngược nhau từ cùng một dữ liệu.
Hai phe trong giới bát tự
| Phe coi trọng thần sát | Phe coi nhẹ thần sát | |
|---|---|---|
| Lý lẽ | Thần sát là kinh nghiệm tích luỹ lâu đời, giúp lời luận cụ thể | Thần sát không có cơ sở ngũ hành, dễ biến lá số thành bảng tra mê tín |
| Cách dùng | Dùng song song với cách cục, dụng thần | Chỉ dùng tham khảo sau cùng, hoặc bỏ hẳn |
| Nguồn tiêu biểu | Nhiều sách tổng hợp như Tam Mệnh Thông Hội | Tử Bình Chân Thuyên và các thầy theo lối lý luận |
| Rủi ro | Lời phán cụ thể nhưng không kiểm chứng được | Lời luận khô, khó hình dung với người nghe |
Người viết đứng gần phe thứ hai: thần sát hữu ích như một lớp văn hoá, cho thấy người xưa gắn ý nghĩa với thời gian thế nào, nhưng không nên là căn cứ để quyết định việc gì.
Thần sát hay bị dùng để gieo nỗi lo
- Đào Hoa: hay bị diễn thành "lăng nhăng", "dễ ngoại tình". Đó là định kiến gắn vào một vị trí tra bảng; rất nhiều người có Đào Hoa ở một trụ nào đó hoặc gặp nó trong đại vận, đơn giản vì bảng tra chỉ có bốn chi Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
- Cô Thần, Quả Tú: mang nghĩa cô đơn, goá bụa, thường bị áp nặng lên phụ nữ. Không nên dùng để đánh giá hôn nhân của ai.
- Không vong: hay bị diễn thành "mười năm trắng tay". Mọi lá số đều có hai chi không vong, và trong đời ai cũng đi qua vận chứa chúng.
- Dương Nhận: hay bị gắn với tai nạn, mổ xẻ. Lời như vậy chỉ nên dẫn tới việc khám sức khoẻ định kỳ và lái xe cẩn thận, không dẫn tới việc mua lễ giải.
Mẫu chung của lời gieo nỗi lo: chỉ ra một thần sát "xấu", cường điệu hậu quả, rồi đưa ra cách giải có giá, kèm lời giục làm ngay hay dặn đừng nói cho ai biết. Gặp mẫu này, nên dừng lại.
Cách dùng thần sát cho đúng tầm, sáu bước
- Luận xong cách cục, mạnh yếu và dụng thần trước.
- Tra thần sát bằng một bộ bảng duy nhất, ghi rõ tra theo can ngày hay can năm.
- Đánh dấu thần sát nào là hệ quả tất yếu của cấu trúc (như ba chi Thìn sinh ba Hoa Cái).
- Chỉ dùng thần sát để thêm màu cho mô tả, không để đảo ngược kết luận đã có.
- Bỏ qua mọi thần sát mà lời giải dựa trên định kiến giới hay định kiến đạo đức.
- Không bao giờ dùng thần sát để hẹn ngày tai hoạ.
Khi nào nên hỏi người có chuyên môn
Nếu đã nghe ai đó phán dựa trên Đào Hoa, Cô Quả hay không vong và thấy lo lắng về hôn nhân, sức khoẻ, tiền bạc, hãy đưa nỗi lo đó tới đúng người: chuyên gia tư vấn hôn nhân gia đình, bác sĩ, người tư vấn tài chính. Nếu muốn học bát tự theo lối lý luận, nên tìm người dạy chịu giải thích nguồn gốc từng bảng tra và nói rõ đâu là quy ước. Bài đại vận và lưu niên trong bát tự có thêm về cách đọc thời gian không biến thành lịch hẹn tai hoạ.
Ai cần sách tra cứu bảng thần sát để đối chiếu có thể xem mục sách lý học của Vật Phẩm Phong Thủy; chọn sách ghi rõ nguồn của từng bảng và có nói đến dị bản là tốt nhất.