Cách lập tứ trụ năm, tháng, ngày, giờ: từng bước với một ví dụ đã kiểm và các bẫy ranh giới
Trả lời ngắn: lập tứ trụ gồm bốn bước. Trụ năm lấy can chi của năm, nhưng ranh giới năm là Lập xuân, không phải Tết. Trụ tháng lấy chi theo tiết khí, can suy từ can năm bằng Ngũ hổ độn. Trụ ngày tra lịch hoặc tính bằng số ngày Julius. Trụ giờ lấy chi theo canh giờ, can suy từ can ngày bằng Ngũ thử độn. Ví dụ một người sinh 15 giờ 30 ngày 20/8/1995 tại Hà Nội có tứ trụ: Ất Hợi, Giáp Thân, Quý Mùi, Canh Thân.
Ví dụ trong bài là giả định để minh hoạ, mọi phép tính đã được kiểm lại bằng chương trình máy tính.
Chuẩn bị dữ liệu
- Ngày sinh dương lịch. Bát tự làm việc tốt nhất với dương lịch, vì tiết khí rơi vào ngày dương gần như cố định.
- Giờ sinh càng chính xác càng tốt, kèm nơi sinh.
- Một bảng tiết khí có giờ giao tiết cho năm sinh, khi người sinh gần đầu tháng dương lịch.
Bước một: trụ năm
Can chi năm tính bằng công thức: năm trừ 4, chia 10 lấy dư ra can, chia 12 lấy dư ra chi. Năm 1995: 1991 chia 10 dư 1 là Ất, chia 12 dư 11 là Hợi. Vậy là Ất Hợi.
Nhưng phải kiểm ngày sinh đã qua Lập xuân chưa. Lập xuân rơi khoảng ngày 4 tháng 2. Ngày 20/8 đã qua xa, nên trụ năm là Ất Hợi. Nếu ai sinh ngày 1/2/1995 thì dù đã là năm 1995 dương lịch, và có thể đã qua Tết, trụ năm vẫn là Giáp Tuất vì chưa tới Lập xuân.
Bước hai: trụ tháng
Ngày 20/8 nằm sau Lập thu (khoảng 8/8) và trước Bạch lộ (khoảng 8/9), nên thuộc tháng Thân.
Can tháng theo Ngũ hổ độn: năm Ất hoặc Canh thì tháng Dần là Mậu Dần. Đếm thuận: Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Giáp Thân. Trụ tháng là Giáp Thân.
Lưu ý: nếu tra âm lịch, ngày này rơi vào khoảng tháng 7 âm lịch, trùng với tháng Thân. Nhưng sự trùng hợp này không phải lúc nào cũng có; gần ranh giới, tháng âm và tháng tiết có thể lệch nhau. Luôn dùng tiết.
Bước ba: trụ ngày
Can chi ngày chạy liên tục nên có thể tính chính xác. Ngày 20/8/1995 có số ngày Julius là 2.449.950. Áp công thức: (2.449.950 + 9) chia 10 dư 9 là Quý; (2.449.950 + 1) chia 12 dư 7 là Mùi. Trụ ngày là Quý Mùi, nhật chủ là Quý Thủy.
Người không muốn tính có thể tra lịch vạn niên; hai cách phải cho cùng một kết quả. Nếu không khớp, một trong hai bị sai, thường là lịch in.
Bước bốn: trụ giờ
15 giờ 30 thuộc giờ Thân (15 – 17 giờ). Ở Hà Nội, giờ mặt trời chỉ sớm hơn đồng hồ khoảng 3 – 4 phút cộng phương trình thời gian, nên 15 giờ 30 không gần ranh giới, vẫn là giờ Thân.
Can giờ theo Ngũ thử độn: ngày Mậu hoặc Quý thì giờ Tý là Nhâm Tý. Đếm thuận: Nhâm Tý, Quý Sửu, Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân. Trụ giờ là Canh Thân.
Kết quả và cách trình bày
| Giờ | Ngày | Tháng | Năm | |
|---|---|---|---|---|
| Thiên can | Canh | Quý | Giáp | Ất |
| Địa chi | Thân | Mùi | Thân | Hợi |
Truyền thống viết từ phải sang trái: năm, tháng, ngày, giờ, theo lối chữ Hán dọc. Nhiều phần mềm hiện đại viết từ trái sang phải. Thứ tự hiển thị không quan trọng, miễn biết cột nào là trụ nào.
Nhìn nhanh: nhật chủ Quý Thủy; có Canh Kim ở trụ giờ và hai chi Thân chứa Kim; có Giáp, Ất Mộc ở trụ năm và tháng; chi Mùi là Thổ. Đây là dữ liệu để các bước luận tiếp theo dùng.
Bốn bẫy hay gặp khi tự lập
- Dùng Tết thay Lập xuân: người sinh từ khoảng 20/1 đến 19/2 dễ sai trụ năm.
- Dùng mùng một âm lịch thay ngày giao tiết: người sinh trong vài ngày đầu tháng dương lịch dễ sai trụ tháng.
- Không quy giờ: người sinh ở miền Nam trong giai đoạn khoảng 1959 – 1975 dùng UTC+8, giờ khai sinh cần lùi một tiếng nếu sát ranh giới canh giờ. Người sinh ở nước ngoài phải dùng giờ địa phương nơi sinh, có tính giờ mùa hè nếu có.
- Giờ Tý: sinh từ 23 đến 24 giờ thì trụ ngày tuỳ phái, cần nói rõ theo phái nào.
Không rõ giờ sinh thì làm gì
Nhiều người, nhất là thế hệ sinh ở nhà hoặc ở vùng quê, không biết giờ sinh chính xác. Có ba cách xử lý thường gặp. Cách thứ nhất là chỉ dùng ba trụ năm, tháng, ngày, gọi là tam trụ; cách này gần với lối của Lý Hư Trung thời Đường và vẫn cho biết nhật chủ, mùa sinh, phần lớn cấu trúc ngũ hành. Cách thứ hai là lập đủ mười hai phương án giờ rồi chỉ giữ những kết luận chung cho mọi phương án. Cách thứ ba là để thầy "đoán giờ" qua các sự kiện đã xảy ra.
Cách thứ ba nên dè dặt: khi chọn giờ sao cho khớp với quá khứ, lá số tất nhiên sẽ khớp quá khứ, và cảm giác "thầy nói đúng quá" không chứng minh được gì cho tương lai. Hai cách đầu trung thực hơn. Nếu gia đình còn giữ sổ sách bệnh viện, giấy chứng sinh gốc, đó là nguồn đáng tin hơn trí nhớ.
Kiểm chéo bằng nhiều nguồn
Cách an toàn nhất là lập tay một lần, rồi so với hai phần mềm khác nhau. Nếu cả ba khớp, gần như chắc chắn đúng. Nếu lệch, kiểm lại bốn bẫy trên. Đa số khác biệt đến từ cài đặt múi giờ và quy ước giờ Tý của phần mềm.
Sau khi có tứ trụ đúng, mới nên bước sang phần luận. Một lời luận hay trên một tứ trụ sai là lời luận cho người khác.
Nhiều người thích có một cuốn lịch vạn niên giấy có bảng tiết khí để tự tra; có thể tìm tại mục lịch vạn niên của Vật Phẩm Phong Thủy, và nên chọn bản ghi giờ giao tiết theo múi giờ Việt Nam.