Can chi tháng và can chi giờ: phép Ngũ hổ độn, Ngũ thử độn và những chỗ hay tính sai
Trả lời ngắn: chi của tháng cố định, tháng Giêng luôn là Dần; chi của giờ cũng cố định, 23 đến 1 giờ là Tý. Can tháng suy từ can năm theo khẩu quyết Ngũ hổ độn ("Giáp Kỷ chi niên Bính tác thủ"): năm Giáp hoặc Kỷ thì tháng Dần là Bính Dần. Can giờ suy từ can ngày theo Ngũ thử độn ("Giáp Kỷ hoàn gia Giáp"): ngày Giáp hoặc Kỷ thì giờ Tý là Giáp Tý.
Hai phép này là nền của việc lập tứ trụ. Sai một nấc ở đây là sai cả hai trụ tháng và giờ, nên bài này đi chậm và chỉ ra những chỗ hay vấp.
Vì sao tháng Giêng là tháng Dần
Người xưa lấy hướng cán sao Bắc Đẩu lúc chập tối để đặt tên tháng, gọi là "kiến". Tháng có Đông chí, cán Đẩu chỉ hướng Tý, gọi là kiến Tý. Theo đó tháng Giêng kiến Dần.
Sử chép ba triều đại dùng ba tháng đầu năm khác nhau: nhà Hạ lấy tháng Dần, nhà Thương lấy tháng Sửu, nhà Chu lấy tháng Tý, gọi là "tam chính". Từ thời Hán Vũ Đế, lịch quay về dùng tháng Dần làm đầu năm như nhà Hạ, nên lịch ta còn gọi là Hạ lịch. Đây là lý do tháng 11 là Tý và tháng 12 là Sửu, dù tháng Giêng không bắt đầu bằng Tý.
Ngũ hổ độn: từ can năm ra can tháng
"Hổ" là Dần. Khẩu quyết cho biết tháng Dần đầu năm mang can gì:
| Can năm | Tháng Dần | Khẩu quyết |
|---|---|---|
| Giáp, Kỷ | Bính Dần | Giáp Kỷ chi niên Bính tác thủ |
| Ất, Canh | Mậu Dần | Ất Canh chi tuế Mậu vi đầu |
| Bính, Tân | Canh Dần | Bính Tân tuế thủ tầm Canh khởi |
| Đinh, Nhâm | Nhâm Dần | Đinh Nhâm Nhâm vị thuận hành lưu |
| Mậu, Quý | Giáp Dần | Mậu Quý tìm ở Giáp Dần |
Từ tháng Dần, đếm thuận can và chi cùng tiến. Ví dụ năm Canh Ngọ: tháng Dần là Mậu Dần, tháng Mão là Kỷ Mão, tháng Thìn là Canh Thìn. Công thức số học tương đương: can tháng Dần = (2 × số can năm + 2) chia 10 lấy dư, với Giáp = 0.
Vì sao năm Giáp và năm Kỷ cho cùng kết quả? Vì 5 năm có 60 tháng, đúng một vòng hoa giáp. Năm Kỷ cách năm Giáp 5 năm nên can tháng lặp lại.
Ranh giới tháng: theo tiết, không theo mùng một
Trong bát tự và nhiều phép chọn ngày, tháng can chi bắt đầu từ ngày giao tiết, không phải mùng một âm lịch:
- Tháng Dần: từ Lập xuân đến trước Kinh trập.
- Tháng Mão: từ Kinh trập đến trước Thanh minh.
- Tháng Thìn: từ Thanh minh đến trước Lập hạ.
- ...và tiếp tục như vậy đến tháng Sửu, từ Tiểu hàn đến trước Lập xuân.
Người sinh ngày mùng 28 tháng Giêng âm lịch nhưng đã qua Kinh trập thì trụ tháng là Mão, không phải Dần. Lỗi này rất phổ biến khi tự lập tứ trụ bằng lịch âm.
Mười hai canh giờ
| Giờ | Khoảng giờ đồng hồ | Giờ | Khoảng giờ đồng hồ |
|---|---|---|---|
| Tý | 23 – 1 | Ngọ | 11 – 13 |
| Sửu | 1 – 3 | Mùi | 13 – 15 |
| Dần | 3 – 5 | Thân | 15 – 17 |
| Mão | 5 – 7 | Dậu | 17 – 19 |
| Thìn | 7 – 9 | Tuất | 19 – 21 |
| Tỵ | 9 – 11 | Hợi | 21 – 23 |
Mỗi canh giờ dài hai tiếng. Giờ Ngọ ôm lấy giữa trưa mặt trời, giờ Tý ôm lấy nửa đêm.
Ngũ thử độn: từ can ngày ra can giờ
"Thử" là chuột, tức Tý. Khẩu quyết cho biết giờ Tý của mỗi ngày mang can gì:
- Ngày Giáp, Kỷ: giờ Tý là Giáp Tý.
- Ngày Ất, Canh: giờ Tý là Bính Tý.
- Ngày Bính, Tân: giờ Tý là Mậu Tý.
- Ngày Đinh, Nhâm: giờ Tý là Canh Tý.
- Ngày Mậu, Quý: giờ Tý là Nhâm Tý.
Công thức số: can giờ Tý = (2 × số can ngày) chia 10 lấy dư. Rồi đếm thuận. Ví dụ ngày Quý, giờ Thân: giờ Tý là Nhâm Tý, đếm Quý Sửu, Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân. Giờ đó là Canh Thân.
Giờ Tý sớm, giờ Tý muộn
Giờ Tý vắt qua nửa đêm, gây tranh cãi lâu đời. Sinh lúc 23 giờ 30 thì tính ngày hôm nay hay ngày mai?
- Phái thứ nhất đổi ngày từ 23 giờ: sinh 23 giờ 30 tính là giờ Tý của ngày hôm sau.
- Phái thứ hai chia "Tý muộn" (23 – 0 giờ) vẫn thuộc ngày hôm nay, "Tý sớm" (0 – 1 giờ) thuộc ngày hôm sau.
Hai phái cho ra trụ ngày khác nhau với người sinh trong khoảng 23 – 24 giờ. Không có cách nào chứng minh phái nào đúng. Người lập lá số cần nói rõ mình theo phái nào.
Giờ đồng hồ và giờ mặt trời
Canh giờ cổ dựa vào mặt trời thật. Giờ đồng hồ ở Việt Nam là UTC+7, ứng với kinh tuyến 105 độ Đông. Hà Nội ở khoảng 105,85 độ nên giờ mặt trời trung bình sớm hơn đồng hồ khoảng 3 – 4 phút; TP. Hồ Chí Minh ở khoảng 106,7 độ, sớm hơn khoảng 7 phút. Thêm "phương trình thời gian" do quỹ đạo elip, chênh lệch có thể tới khoảng một phần tư giờ tuỳ mùa.
Một chỗ quan trọng hơn: theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, miền Nam Việt Nam từng dùng UTC+8 trong khoảng 1959 – 1975. Người sinh ở miền Nam thời kỳ đó, giờ trong giấy khai sinh sớm hơn giờ UTC+7 một tiếng. Nếu sinh sát ranh giới canh giờ, cần lùi lại một tiếng trước khi lập trụ giờ.
Một chiếc la bàn hay đồng hồ mặt trời nhỏ là món đồ thú vị để thấy tận mắt độ lệch giữa giờ mặt trời và giờ đồng hồ; có thể xem các mẫu ở mục la bàn, thước Lỗ Ban của Vật Phẩm Phong Thủy.