Cách đổi ngày dương lịch sang âm lịch từng bước: ngày sóc, tháng 11, trung khí và tháng nhuận
Trả lời ngắn: đổi một ngày dương lịch sang âm lịch Việt Nam cần năm bước: đổi ngày ra số ngày Julius, tìm ngày sóc (trăng mới) gần nhất theo giờ UTC+7, xác định tháng 11 âm lịch là tháng chứa Đông chí, đếm số tháng giữa hai tháng 11 liên tiếp để biết năm có nhuận hay không, rồi tìm tháng nhuận là tháng đầu tiên không chứa trung khí. Ví dụ ngày 20/8/1995 là ngày 25 tháng 7 năm Ất Hợi, ngày Quý Mùi; năm đó nhuận tháng 8.
Bài này không đưa ra mã nguồn, mà đi qua logic của phép đổi lịch bằng lời và bảng, đủ để người đọc hiểu một phần mềm lịch đang làm gì bên trong, và đủ để tự kiểm một cuốn lịch giấy khi thấy nghi ngờ. Các con số trong bài đã được tính lại bằng chương trình máy tính theo thuật toán âm lịch Việt Nam được công bố rộng rãi của Hồ Ngọc Đức, rồi đối chiếu với lịch vạn niên.
Vì sao không có công thức đổi lịch đơn giản
Dương lịch chỉ cần một quy tắc năm nhuận là đủ. Âm dương lịch thì phụ thuộc vào hai chuyển động thật trên bầu trời: mặt trăng quay quanh trái đất (quyết định ngày mùng một) và trái đất quay quanh mặt trời (quyết định tiết khí và tháng nhuận). Hai chuyển động này đều không đều: tháng trăng dài từ khoảng 29,3 đến 29,8 ngày, tiết khí mùa hè dài hơn mùa đông. Bài âm dương lịch là gì đã giải thích nguyên lý; ở đây là phần tính toán.
Hệ quả: không có bảng chu kỳ nào lặp lại hoàn hảo. Muốn biết ngày nào là mùng một thì phải tính vị trí mặt trăng; muốn biết tháng nào nhuận thì phải tính vị trí mặt trời. Mọi cuốn lịch vạn niên, mọi ứng dụng lịch trên điện thoại đều làm đúng hai việc đó.
Bốn nguyên tắc mà mọi phép tính phải tuân theo
- Ngày đầu tháng là ngày chứa điểm sóc, tức thời điểm mặt trăng nằm giữa trái đất và mặt trời, tính theo giờ địa phương.
- Tháng 11 âm lịch luôn chứa Đông chí, thời điểm mặt trời ở kinh độ hoàng đạo 270 độ.
- Năm nào giữa hai tháng 11 có 13 tháng thì năm đó nhuận. Tháng nhuận là tháng đầu tiên, tính từ sau tháng 11, không chứa trung khí nào.
- Lịch Việt Nam tính theo múi giờ UTC+7, tức kinh tuyến 105 độ Đông. Lịch Trung Quốc tính theo UTC+8.
Nguyên tắc thứ ba là chỗ phức tạp nhất, đã được bàn kỹ ở bài tháng nhuận âm lịch tính ra sao. Dưới đây chỉ dùng nó như một bước trong quy trình.
Bước một: đổi ngày ra số ngày Julius
Số ngày Julius (thường viết tắt JDN) là một con số đếm ngày liên tục mà giới thiên văn dùng, không phụ thuộc tháng hay năm. Ví dụ ngày 1/1/2000 có số 2.451.545. Mọi phép trừ ngày, đếm ngày trở nên dễ dàng khi đổi sang con số này.
Với ngày 20/8/1995, số ngày Julius là 2.449.950. Con số này dùng ngay được để tính can chi ngày: can là số dư khi chia (JDN + 9) cho 10, chi là số dư khi chia (JDN + 1) cho 12. Kết quả: Quý Mùi. Đây là cách kiểm nhanh mà lịch giấy nào cũng phải khớp.
Bước hai: tìm ngày sóc
Thời điểm sóc được tính bằng một công thức gồm hai phần. Phần chính là chu kỳ trung bình của tháng trăng, khoảng 29,530589 ngày, nhân với số thứ tự của tháng tính từ một mốc cố định. Phần hiệu chỉnh là một chuỗi các số hạng hình sin, phản ánh việc quỹ đạo mặt trăng và trái đất là hình elip, và việc mặt trời kéo lệch quỹ đạo mặt trăng. Công thức loại này đã có trong các sách thiên văn tính toán, cho sai số cỡ vài phút trong nhiều thế kỷ.
Sau khi có thời điểm sóc theo giờ quốc tế, cộng 7 giờ để ra giờ Việt Nam, rồi lấy phần ngày. Với ví dụ của bài:
- Điểm sóc trước ngày 20/8/1995 rơi vào ngày 27/7/1995 theo giờ Việt Nam.
- Điểm sóc tiếp theo rơi vào ngày 26/8/1995.
Vậy ngày 20/8/1995 nằm trong tháng âm lịch bắt đầu từ ngày 27/7/1995, và là ngày thứ 20 − 27 + 31 + 1 = 25 của tháng đó. Ngày âm lịch là 25. Phần còn lại là xác định đó là tháng mấy.
Bước ba: tìm hai tháng 11 bao quanh
Muốn biết số tháng, phải có mốc. Mốc của âm lịch là tháng 11, vì đó là tháng duy nhất được định nghĩa chắc chắn bằng thiên văn: tháng chứa Đông chí.
Cách làm: tìm điểm sóc cuối cùng trước Đông chí của năm trước và của năm hiện tại. Với ví dụ:
- Tháng 11 năm Giáp Tuất bắt đầu ngày 3/12/1994 (Đông chí 1994 nằm trong tháng này).
- Tháng 11 năm Ất Hợi bắt đầu ngày 22/12/1995.
Khoảng cách giữa hai ngày là 384 ngày. Mười hai tháng trăng chỉ khoảng 354 – 355 ngày, nên 384 ngày nghĩa là có 13 tháng. Năm này có tháng nhuận.
Bước bốn: tìm tháng nhuận bằng trung khí
Trung khí là 12 trong 24 tiết khí, ứng với lúc mặt trời đi qua các kinh độ chia hết cho 30 độ: Xuân phân (0 độ), Cốc vũ (30), Tiểu mãn (60), Hạ chí (90), Đại thử (120), Xử thử (150), Thu phân (180), Sương giáng (210), Tiểu tuyết (240), Đông chí (270), Đại hàn (300), Vũ thủy (330). Cách kiểm: tính kinh độ mặt trời vào đầu ngày sóc của tháng này và của tháng sau. Nếu hai giá trị nằm cùng một khoảng 30 độ, thì trong tháng không có trung khí nào.
Bảng dưới liệt kê các tháng từ tháng 11 năm Giáp Tuất đến tháng 11 năm Ất Hợi, kèm khoảng kinh độ mặt trời vào ngày đầu tháng:
| Ngày bắt đầu (dương lịch) | Kinh độ mặt trời đầu tháng | Tháng âm lịch |
|---|---|---|
| 3/12/1994 | 240 – 270 độ | 11 (Giáp Tuất) |
| 1/1/1995 | 270 – 300 độ | 12 |
| 31/1/1995 | 300 – 330 độ | Giêng (Tết Ất Hợi) |
| 1/3/1995 | 330 – 360 độ | 2 |
| 31/3/1995 | 0 – 30 độ | 3 |
| 30/4/1995 | 30 – 60 độ | 4 |
| 29/5/1995 | 60 – 90 độ | 5 |
| 28/6/1995 | 90 – 120 độ | 6 |
| 27/7/1995 | 120 – 150 độ | 7 |
| 26/8/1995 | 150 – 180 độ | 8 |
| 24/9/1995 | 180 – 210 độ | 8 nhuận |
| 24/10/1995 | 180 – 210 độ | 9 |
| 22/11/1995 | 210 – 240 độ | 10 |
| 22/12/1995 | 240 – 270 độ | 11 (Ất Hợi) |
Hai tháng liền nhau bắt đầu ngày 24/9 và 24/10 có kinh độ đầu tháng cùng nằm trong khoảng 180 – 210 độ. Nghĩa là trong tháng bắt đầu ngày 24/9, mặt trời không đi qua mốc 210 độ (Sương giáng): Thu phân đã rơi vào tháng trước, Sương giáng rơi vào tháng sau. Tháng này là tháng đầu tiên không có trung khí, nên là tháng nhuận, mang số của tháng đứng trước: tháng 8 nhuận.
Bước năm: gán số tháng và kết luận
Đếm từ tháng 11 năm Giáp Tuất: tháng 12, Giêng, 2, 3, 4, 5, 6, 7. Tháng bắt đầu 27/7/1995 là tháng 7. Tháng nhuận nằm sau, không ảnh hưởng tới ngày cần đổi. Kết quả: 20/8/1995 là ngày 25 tháng 7 năm Ất Hợi, ngày Quý Mùi.
Nếu ngày cần đổi rơi sau tháng nhuận, ví dụ 1/11/1995, thì phải trừ đi một khi đếm số tháng, và ghi rõ chữ "nhuận" nếu ngày nằm đúng trong tháng nhuận. Đây là chỗ các bảng tra tự làm hay sai nhất.
Ví dụ thứ hai: năm Canh Tý nhuận tháng 4
Làm lại quy trình cho năm Canh Tý (dương lịch 2020) để thấy một tình huống ranh giới. Tháng 11 năm Kỷ Hợi bắt đầu 26/11/2019, tháng 11 năm Canh Tý bắt đầu 14/12/2020, cách nhau 384 ngày, có 13 tháng. Tết Canh Tý là 25/1/2020.
Tháng bắt đầu ngày 23/5/2020 kéo dài đến hết ngày 20/6/2020. Tiểu mãn (60 độ) đã qua trước ngày 23/5, còn Hạ chí (90 độ) rơi vào ngày 21/6 theo giờ Việt Nam, đúng ngày sóc của tháng sau. Vì Hạ chí và điểm sóc rơi cùng một ngày, Hạ chí thuộc về tháng mới. Tháng bắt đầu 23/5 không có trung khí, thành tháng 4 nhuận.
Ví dụ này cho thấy một điều quan trọng: phép tính âm lịch so sánh theo đơn vị ngày. Nếu một phần mềm so theo giờ, phút, hoặc dùng múi giờ khác, nó có thể ra kết quả khác ở những năm ranh giới như thế này.
Bảng tóm tắt quy trình
| Bước | Việc làm | Dữ liệu cần | Lỗi hay gặp |
|---|---|---|---|
| 1 | Đổi ngày ra số ngày Julius | Ngày dương lịch | Nhầm lịch Julius và Gregory với ngày trước tháng 10/1582 |
| 2 | Tìm ngày sóc bao quanh | Công thức tuần trăng, múi giờ | Dùng sai múi giờ, lệch một ngày |
| 3 | Tìm hai tháng 11 bao quanh | Thời điểm Đông chí | Lấy tháng chứa ngày 21 hay 22/12 cố định thay vì tính |
| 4 | Xác định tháng nhuận | Kinh độ mặt trời đầu mỗi tháng | Dùng bình khí thay cho định khí |
| 5 | Gán số tháng, số ngày | Kết quả các bước trên | Quên trừ tháng nhuận khi đếm |
Độ chính xác và giới hạn
Công thức tuần trăng và kinh độ mặt trời dùng trong các phần mềm lịch phổ thông là công thức gần đúng. Sai số vài phút là không đáng kể với đa số ngày. Nhưng khi điểm sóc rơi rất sát nửa đêm, vài phút cũng đủ đẩy mùng một sang ngày khác. Khi đó, phần mềm dùng công thức gần đúng và phần mềm dùng lịch thiên văn chính xác có thể lệch nhau một ngày.
Với những năm quá xa trong quá khứ, còn thêm hai vấn đề: tốc độ quay của trái đất chậm dần nên phải ước lượng chênh lệch thời gian, và lịch sử dụng thực tế khi đó có thể không theo đúng phép tính hiện đại. Ngày âm lịch của một sự kiện thế kỷ XV tính bằng phần mềm chỉ là ngày "theo phép tính hôm nay", không chắc trùng với lịch mà người thời đó cầm trong tay.
Sai lầm thường gặp khi tự đổi lịch
- Dùng bảng của Trung Quốc cho Việt Nam. Lệch múi giờ một tiếng đủ làm lệch ngày mùng một, có năm lệch cả tháng nhuận.
- Coi Tết luôn rơi vào khoảng cố định rồi đoán. Tết có thể rơi từ khoảng 21/1 đến 20/2 dương lịch, không đoán được bằng mắt.
- Bỏ qua tháng nhuận. Với năm có tháng nhuận, các ngày sau tháng nhuận sẽ bị gán sai số tháng nếu không trừ đi một.
- Nhầm "tháng nhuận" với "năm nhuận" dương lịch. Năm 1995 không phải năm nhuận dương lịch nhưng lại có tháng nhuận âm lịch.
- Tin một nguồn duy nhất. Cách an toàn là đối chiếu hai phần mềm khác nhau và một cuốn lịch giấy có ghi rõ lập theo UTC+7.
Tự kiểm một cuốn lịch giấy trong năm phút
- Chọn một ngày bất kỳ, tính can chi ngày bằng số ngày Julius, so với lịch.
- Tìm Đông chí trong lịch (khoảng 21 – 22/12) và kiểm nó nằm trong tháng 11 âm lịch.
- Nếu năm có tháng nhuận, kiểm trong tháng nhuận không có trung khí nào được in.
- Đối chiếu ngày Tết với một nguồn chính thức, ví dụ lịch nghỉ Tết được công bố.
- Xem lịch có ghi giờ giao tiết không; lịch có giờ thường được tính kỹ hơn.
Vì sao người học lý học nên hiểu phép tính này
Tử vi lấy tháng âm và ngày âm làm dữ liệu đầu vào; bát tự lấy tiết khí làm ranh giới tháng; phong thủy chọn ngày dựa vào can chi ngày. Một sai sót ở khâu đổi lịch kéo theo toàn bộ phần luận phía sau. Hiểu cách đổi lịch giúp người học biết khi nào cần cẩn thận: sinh gần ngày sóc, sinh trong tháng nhuận, sinh gần Lập xuân, hay sinh ở nước ngoài với múi giờ khác. Bài thập can, thập nhị chi và vòng hoa giáp có công thức can chi năm và ngày đi kèm.
Khi nào nên hỏi người có chuyên môn
Nếu cần ngày âm lịch cho giấy tờ, thủ tục hay tranh chấp, hãy dùng lịch được phát hành chính thức và hỏi cơ quan liên quan, đừng dựa vào phép tính tự làm. Nếu cần đổi ngày cho một sự kiện lịch sử, nên đọc nghiên cứu của các nhà sử học và thiên văn học, vì lịch dùng trong quá khứ có thể khác phép tính hiện đại. Nếu sinh đúng ngày sóc hoặc đúng giờ giao tiết, nên đối chiếu nhiều nguồn và chấp nhận rằng có thể còn một độ bất định.
Người thích tra cứu trên giấy có thể tìm một cuốn lịch vạn niên có bảng tiết khí và giờ sóc tại mục lịch vạn niên của Vật Phẩm Phong Thủy; dùng năm bước kiểm ở trên trước khi tin hẳn vào cuốn nào.