Lịch Việt và lịch Trung Hoa: các lần cải lịch, múi giờ UTC+7 và hai lần Tết lệch nhau tính lại bằng số liệu
Trả lời ngắn: lịch âm dương phương Đông đã được sửa nhiều lần trong hơn hai nghìn năm, mỗi lần vì lịch cũ lệch khỏi trời: đổi tháng đầu năm thời Hán, đưa tuế sai vào thời Nam Bắc triều, lấy độ dài năm 365,2425 ngày thời Nguyên, chuyển sang định khí thời Thanh. Lịch Việt Nam đi theo phép lịch Trung Hoa suốt thời phong kiến, rồi từ cuối thập niên 1960 tính theo múi giờ UTC+7 của riêng mình. Vì thế có những năm Tết Việt và Tết Trung Hoa lệch nhau một ngày, như Mậu Thân, hoặc lệch cả tháng, như Ất Sửu.
Bài này đi theo hai trục. Trục thứ nhất là lịch sử: vì sao phải cải lịch, mỗi lần cải lịch sửa cái gì. Trục thứ hai là cơ chế: tính lại hai trường hợp Tết lệch bằng số liệu thiên văn, để thấy sự khác biệt sinh ra ở đâu. Các thời điểm sóc và Đông chí trong bài đã được tính bằng chương trình máy tính theo công thức thiên văn gần đúng; sai số cỡ vài phút, không làm thay đổi kết luận.
Vì sao lịch phải sửa mãi
Một cuốn lịch là một mô hình của trời. Mô hình nào cũng có sai số, và sai số tích luỹ theo năm tháng. Nếu lịch cho độ dài năm dài hơn thực tế vài phút, sau vài thế kỷ tiết khí trên lịch sẽ lệch khỏi tiết khí thật vài ngày. Người làm nông nhận ra điều đó qua mùa vụ; người làm lịch nhận ra qua việc dự báo nhật thực, nguyệt thực sai giờ.
Với các triều đình phương Đông, chuyện này còn mang nghĩa chính trị. Ban lịch là việc của thiên tử; lịch sai bị coi là dấu hiệu triều chính không hợp với trời. Vì vậy cải lịch vừa là việc khoa học vừa là việc nhà nước, và lịch sử lịch pháp gắn liền với các cơ quan thiên văn của triều đình.
Tam chính: ba cách chọn tháng đầu năm
Trước khi có lịch thống nhất, các sách cổ ghi lại ba cách chọn tháng mở đầu năm, gọi là "tam chính":
| Tên gọi | Tháng đầu năm | Ứng với |
|---|---|---|
| Hạ chính | Tháng Dần | Tháng Giêng hiện nay, quanh Lập xuân |
| Thương chính | Tháng Sửu | Tháng Chạp hiện nay |
| Chu chính | Tháng Tý | Tháng 11 hiện nay, chứa Đông chí |
Nhà Tần lại chọn tháng Hợi làm đầu năm. Đến thời Hán Vũ Đế, lịch Thái Sơ ra đời và quay về Hạ chính, lấy tháng Dần làm tháng Giêng. Từ đó đến nay, trừ vài giai đoạn ngắn, tháng Giêng âm lịch luôn là tháng Dần. Đây là lý do tháng Giêng mang chi Dần, như bài can chi tháng và can chi giờ đã giải thích.
Chi tiết này có hệ quả thực tế: chi của tháng được gắn với vị trí mặt trời theo mùa, còn số thứ tự tháng là quy ước. Tháng 11 chứa Đông chí và mang chi Tý dù năm bắt đầu ở đâu.
Những lần cải lịch lớn
Lịch Trung Hoa được sửa nhiều chục lần. Bảng dưới chỉ nêu những lần thường được nhắc trong sách lịch sử khoa học, kèm điểm đổi mới chính.
| Lịch | Thời kỳ | Đổi mới chính |
|---|---|---|
| Thái Sơ | Hán Vũ Đế | Lấy tháng Dần làm đầu năm; đưa 24 tiết khí vào hệ thống lịch chính thức |
| Đại Minh | Nam Bắc triều, do Tổ Xung Chi soạn | Đưa hiện tượng tuế sai (điểm Đông chí dịch dần trên nền sao) vào phép tính |
| Đại Diễn | Đường, do nhà sư Nhất Hạnh soạn | Tính đến chuyển động không đều của mặt trời trong năm |
| Thụ Thời | Nguyên, do Quách Thủ Kính chủ trì | Độ dài năm 365,2425 ngày, đo bằng hệ thống quan trắc quy mô lớn |
| Thời Hiến | Đầu Thanh, có các giáo sĩ phương Tây tham gia | Chuyển sang định khí: chia tiết khí theo góc, không theo thời gian |
Hai điểm đáng chú ý. Độ dài năm 365,2425 ngày của lịch Thụ Thời trùng với độ dài năm trung bình của lịch Gregory mà thế giới dùng hôm nay, dù hai lịch ra đời độc lập. Và việc chuyển sang định khí ở lịch Thời Hiến là nguyên nhân khiến tháng nhuận hay rơi vào mùa hè, như bài tháng nhuận âm lịch tính ra sao đã phân tích.
Lịch ở Việt Nam thời phong kiến
Các triều đại Việt Nam có cơ quan lo thiên văn và làm lịch; thời Nguyễn là Khâm thiên giám. Về phép tính, lịch Việt thời phong kiến phần lớn dựa trên phép lịch Trung Hoa cùng thời, có điều chỉnh và đặt tên riêng ở một số triều. Sử cũ có ghi những năm lịch Việt và lịch phương Bắc lệch nhau, cho thấy lịch không chỉ là bản chép lại.
Người viết không đưa ra danh sách chi tiết các bộ lịch của từng triều Việt, vì tư liệu phổ thông về phần này hay chép lẫn nhau và có chỗ mâu thuẫn. Người muốn đi sâu nên đọc các công trình chuyên khảo về lịch Việt của các nhà nghiên cứu lịch sử khoa học, và đối chiếu với nguyên văn chính sử.
Thời Pháp thuộc và hai lịch song song
Từ khi người Pháp đặt nền cai trị, dương lịch được dùng trong hành chính, trường học, giấy tờ. Âm lịch lui về đời sống: lễ Tết, giỗ chạp, mùa vụ, chọn ngày. Tình trạng hai lịch song song kéo dài đến hôm nay. Trong giai đoạn này, việc làm âm lịch ở Việt Nam thường theo sát lịch Trung Hoa, nghĩa là theo múi giờ UTC+8, ứng với kinh tuyến 120 độ Đông.
Đây là điểm mấu chốt: múi giờ dùng để làm lịch không phải chuyện kỹ thuật vụn vặt. Âm lịch xác định ngày theo thời điểm sóc và tiết khí rơi vào ngày nào, mà "ngày nào" phụ thuộc đồng hồ của nơi làm lịch.
Chuyển sang múi giờ UTC+7
Cuối thập niên 1960, miền Bắc Việt Nam chuyển sang làm âm lịch theo múi giờ UTC+7, ứng với kinh tuyến 105 độ Đông đi qua gần giữa lãnh thổ. Lý lẽ rất đơn giản: lịch của một nước nên tính theo giờ của nước đó. Sau khi đất nước thống nhất, lịch theo UTC+7 được dùng chung cả nước.
Từ đó, lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc vẫn dùng cùng nguyên tắc, cùng tên tháng, cùng can chi, nhưng có thể khác nhau ở hai chỗ: ngày mùng một của một số tháng, và vị trí tháng nhuận của một số năm. Phần lớn các năm hai lịch trùng nhau hoàn toàn; khác biệt chỉ lộ ra khi một mốc thiên văn rơi rất sát nửa đêm.
Tính lại Tết Mậu Thân: lệch một ngày
Điểm sóc mở đầu năm Mậu Thân rơi vào khoảng 16 giờ 30 ngày 29/1/1968 theo giờ quốc tế. Đổi ra:
- Theo UTC+7: khoảng 23 giờ 30 ngày 29/1/1968, tức vẫn là ngày 29.
- Theo UTC+8: khoảng 0 giờ 30 ngày 30/1/1968, tức đã sang ngày 30.
Một điểm sóc duy nhất, nhưng hai múi giờ đặt nó vào hai ngày khác nhau. Lịch theo UTC+7 có mùng một Tết là 29/1, lịch theo UTC+8 có mùng một Tết là 30/1. Vì miền Bắc đã đổi lịch còn miền Nam khi đó vẫn theo lịch cũ, nhiều tài liệu ghi lại rằng năm đó hai miền đón Tết lệch nhau một ngày.
Tính lại Tết Ất Sửu: lệch cả một tháng
Trường hợp này phức tạp hơn và cho thấy rõ cơ chế của tháng 11. Các mốc thiên văn cuối năm 1984, tính theo giờ quốc tế:
- Đông chí: khoảng 16 giờ ngày 21/12/1984.
- Điểm sóc tiếp theo: khoảng 12 giờ ngày 22/12/1984.
Theo UTC+7, Đông chí rơi vào khoảng 23 giờ ngày 21/12, trước ngày sóc 22/12. Đông chí thuộc tháng bắt đầu từ ngày 23/11/1984, nên tháng đó là tháng 11. Tháng bắt đầu 22/12 là tháng Chạp, và Tết Ất Sửu là ngày 21/1/1985.
Theo UTC+8, Đông chí rơi vào khoảng 0 giờ ngày 22/12, cùng ngày với điểm sóc. Đông chí thuộc tháng bắt đầu 22/12, nên tháng đó mới là tháng 11. Tháng Chạp bắt đầu 21/1/1985, và Tết Ất Sửu là ngày 20/2/1985.
| Tháng bắt đầu | Lịch theo UTC+7 | Lịch theo UTC+8 |
|---|---|---|
| 23/11/1984 | Tháng 11 | Tháng 10 nhuận |
| 22/12/1984 | Tháng Chạp | Tháng 11 |
| 21/1/1985 | Tháng Giêng (Tết) | Tháng Chạp |
| 20/2/1985 | Tháng 2 | Tháng Giêng (Tết) |
| 21/3/1985 | Tháng 2 nhuận | Tháng 2 |
| 20/4/1985 | Tháng 3 | Tháng 3 |
Để giữ cho tháng 11 luôn chứa Đông chí, lịch theo UTC+8 phải chèn tháng nhuận vào cuối năm Giáp Tý, còn lịch theo UTC+7 lại chèn tháng nhuận vào đầu năm Ất Sửu. Hai lịch gọi tên tháng khác nhau suốt năm tháng liền, từ cuối tháng 11/1984 đến giữa tháng 4/1985, rồi khớp lại từ tháng 3 âm lịch. Chỉ một khoảng chênh rất nhỏ quanh nửa đêm của Đông chí đã đủ tạo ra một cái Tết sớm hơn một tháng.
Bài học từ hai trường hợp
- Âm lịch là phép tính thiên văn có địa điểm. Cùng nguyên tắc, khác kinh độ thì có thể khác kết quả.
- Lệch lịch không phải "lịch ai sai". Cả hai lịch đều đúng với múi giờ của mình.
- Những năm ranh giới hiếm nhưng có thật. Người làm lý học, xem ngày, lập lá số cho người sinh vào các tháng bị lệch phải biết mình đang dùng lịch nào.
- Phần mềm phải khai báo múi giờ. Một ứng dụng lịch nhập từ nước ngoài có thể cho ngày âm khác lịch Việt Nam vào đúng những năm như vậy.
Ảnh hưởng tới tử vi, bát tự và xem ngày
Tử vi dùng tháng âm và ngày âm. Một người sinh trong khoảng 21/1 đến 19/2/1985 sẽ có tháng sinh âm lịch khác hẳn nhau nếu lập lá số bằng lịch Việt hay lịch Trung Quốc: theo lịch Việt là tháng Giêng năm Ất Sửu, theo lịch Trung Quốc là tháng Chạp năm Giáp Tý. Cung Mệnh, cục, vị trí sao đều thay đổi.
Bát tự ít bị ảnh hưởng hơn, vì trụ năm và trụ tháng tính theo tiết khí, mà tiết khí không phụ thuộc tháng âm. Nhưng trụ ngày và trụ giờ vẫn phụ thuộc múi giờ nơi sinh. Xem ngày tốt xấu theo can chi ngày không bị ảnh hưởng, vì vòng can chi ngày chạy liên tục trên dương lịch.
Vì thế, khi tự lập lá số tử vi cho người sinh trong những năm có lệch, việc đầu tiên là ghi rõ dùng lịch Việt Nam UTC+7. Bài cách lập lá số tử vi từng bước giải thích vì sao tháng sinh âm lịch quyết định cung Mệnh.
Sai lầm hay gặp khi đọc lịch sử lịch pháp
- "Âm lịch là của Trung Quốc, Việt Nam chỉ chép theo." Phép lịch có chung gốc, nhưng lịch Việt Nam hôm nay được tính riêng theo kinh độ của mình.
- "Lịch xưa không chính xác." Nhiều bộ lịch cổ đạt độ chính xác rất cao so với phương tiện thời đó; cải lịch là dấu hiệu của tinh thần sửa sai, không phải của sự yếu kém.
- "Năm nào Tết hai nước cũng lệch." Phần lớn các năm trùng nhau hoàn toàn; lệch chỉ xảy ra trong một số năm ranh giới.
- Chép số liệu từ nguồn không ghi xuất xứ. Nhiều trang chép sai tên lịch, sai triều đại. Gặp thông tin lịch sử lịch pháp, nên tìm đến sách chuyên khảo.
Khi nào nên hỏi người có chuyên môn
Lịch sử lịch pháp là một lĩnh vực chuyên sâu nằm giữa sử học, Hán Nôm và thiên văn học. Người muốn nghiên cứu nghiêm túc nên đọc các công trình của nhà nghiên cứu lịch sử khoa học, và hỏi các nhà thiên văn khi cần thời điểm chính xác của một hiện tượng. Với giấy tờ cần ngày âm lịch chính thức, hãy dùng lịch do cơ quan có thẩm quyền phát hành.
Người thích đọc thêm về lịch pháp và thiên văn cổ có thể xem các đầu sách trong mục sách lý học của Vật Phẩm Phong Thủy, ưu tiên sách có ghi nguồn tư liệu rõ ràng.