Lý Học Đông Phương Dịch · tử vi · bát tự
💬
Thập can, thập nhị chi và vòng Lục thập hoa giáp: cấu trúc, cách tính can chi năm và ngày bằng con số

Thập can, thập nhị chi và vòng Lục thập hoa giáp: cấu trúc, cách tính can chi năm và ngày bằng con số

✍ Lý Học Đông Phương 📅 13/10/2026 ⏱ 6 phút đọc
Mười can và mười hai chi ghép lại thành vòng sáu mươi. Bài này giải thích vì sao chỉ có 60 chứ không phải 120 tổ hợp, và cách tự tính can chi năm, ngày.

Trả lời ngắn: Thập can gồm Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý; Thập nhị chi gồm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Ghép can và chi chạy song song ta được vòng 60 tổ hợp, gọi là Lục thập hoa giáp, bắt đầu từ Giáp Tý. Can chi năm tính được bằng công thức: lấy năm dương lịch trừ 4, chia lấy dư cho 10 ra can, chia lấy dư cho 12 ra chi.

Can chi là hệ đánh số chu kỳ cổ nhất còn dùng hằng ngày ở phương Đông. Trước khi là công cụ lý học, nó là hệ ghi thời gian: trên giáp cốt thời Thương, ngày đã được ghi bằng can chi.

Mười can và âm dương ngũ hành

CanÂm dươngNgũ hành
Giáp / ẤtDương / ÂmMộc
Bính / ĐinhDương / ÂmHỏa
Mậu / KỷDương / ÂmThổ
Canh / TânDương / ÂmKim
Nhâm / QuýDương / ÂmThủy

Can lẻ (thứ 1, 3, 5, 7, 9) là dương, can chẵn là âm. Mỗi hành có một cặp can, dương trước âm sau, theo thứ tự tương sinh Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy.

Mười hai chi và âm dương ngũ hành

ChiÂm dươngNgũ hànhTháng âm lịch tương ứng
TýDươngThủy11
SửuÂmThổ12
DầnDươngMộcGiêng
MãoÂmMộc2
ThìnDươngThổ3
TỵÂmHỏa4
NgọDươngHỏa5
MùiÂmThổ6
ThânDươngKim7
DậuÂmKim8
TuấtDươngThổ9
HợiÂmThủy10

Bốn chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc Thổ, nằm ở cuối mỗi mùa. Đây là cách người xưa giải quyết bài toán năm hành chia cho bốn mùa: Thổ không giữ một mùa riêng mà nằm ở các khúc giao mùa. Việc gán con giáp cho chi là lớp muộn hơn, phổ biến từ khoảng thời Hán; người Việt dùng Mèo cho Mão, khác với Thỏ ở Trung Hoa.

Vì sao vòng chỉ có 60 chứ không phải 120

Nếu ghép tự do mười can với mười hai chi sẽ có 120 tổ hợp. Nhưng can và chi đi song song, mỗi bước cùng tiến một nấc: Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần... Can dương luôn đi với chi dương, can âm luôn đi với chi âm. Không bao giờ có "Giáp Sửu" hay "Ất Tý".

Về mặt số học, hai vòng 10 và 12 quay đồng bộ sẽ trở lại điểm xuất phát sau bội chung nhỏ nhất của 10 và 12, tức 60 bước. Đây là lý do một "hoa giáp" là 60 năm, và người thọ 60 tuổi gọi là được một vòng hoa giáp.

Sáu mốc mở đầu bằng can Giáp trong vòng là Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần. Mỗi mốc mở một "tuần" mười tổ hợp; các phép như "tuần không" trong bát tự và tử vi dựa trên cách chia này.

Công thức tính can chi năm

Với năm dương lịch Y (sau Công nguyên), đánh số Giáp = 0, Ất = 1... Quý = 9 và Tý = 0, Sửu = 1... Hợi = 11:

  • Can = (Y − 4) chia 10 lấy dư.
  • Chi = (Y − 4) chia 12 lấy dư.

Ví dụ năm 1984: (1984 − 4) = 1980; 1980 chia 10 dư 0 là Giáp, chia 12 dư 0 là Tý, ra Giáp Tý. Năm 1990: 1986 chia 10 dư 6 là Canh, chia 12 dư 6 là Ngọ, ra Canh Ngọ. Năm 1975: 1971 dư 1 và dư 3, ra Ất Mão. Các kết quả này đã kiểm bằng máy.

Mẹo nhẩm can: chữ số cuối của năm cho ngay can. Năm tận cùng 4 là Giáp, 5 Ất, 6 Bính, 7 Đinh, 8 Mậu, 9 Kỷ, 0 Canh, 1 Tân, 2 Nhâm, 3 Quý. Lưu ý công thức cho năm theo dương lịch; người sinh tháng 1, đầu tháng 2 phải xem đã qua Tết (tử vi) hay qua Lập xuân (bát tự) chưa.

Công thức tính can chi ngày

Can chi ngày chạy liên tục không ngắt, bất kể tháng đủ thiếu hay năm nhuận. Vì vậy tính được bằng số ngày Julius (JDN), con số đếm ngày liên tục mà giới thiên văn dùng:

  • Can ngày = (JDN + 9) chia 10 lấy dư.
  • Chi ngày = (JDN + 1) chia 12 lấy dư.

Ví dụ ngày 1/1/2000 có JDN là 2.451.545. (2.451.545 + 9) chia 10 dư 4 là Mậu; (2.451.545 + 1) chia 12 dư 6 là Ngọ. Ngày đó là Mậu Ngọ, khớp với lịch vạn niên. Công thức JDN có sẵn trong mọi tài liệu thiên văn và mọi ngôn ngữ lập trình đều tính được.

Nạp âm: lớp ngũ hành thứ hai

Ngoài hành của can và chi riêng lẻ, mỗi cặp can chi trong vòng 60 còn được gán một hành "nạp âm", hai cặp liền nhau chung một tên. Giáp Tý và Ất Sửu là Hải trung kim (vàng trong biển); Bính Dần, Đinh Mão là Lô trung hỏa (lửa trong lò). Ba mươi tên nạp âm này là nguồn của cách nói "mệnh Kim", "mệnh Hỏa" phổ biến khi hỏi tuổi.

Nạp âm có quy luật xây dựng riêng dựa trên âm luật cổ và là lớp chú giải được nhiều môn dùng khác nhau: tử vi dùng nạp âm để định cục, còn bát tự hiện đại hầu như không dùng. Gặp người phán chuyện hợp khắc chỉ dựa trên "mệnh nạp âm" của năm sinh, nên biết đó chỉ là một lớp rất thô.

Can chi ngoài lý học

Lịch sử Việt Nam và Trung Hoa gọi tên nhiều sự kiện theo năm can chi: Cách mạng Tân Hợi, biến cố Mậu Thân, phong trào Duy Tân Mậu Tuất. Đọc sử cũ, biết đổi can chi ra năm dương lịch là kỹ năng cần thiết. Nhớ rằng mỗi tên lặp lại sau 60 năm, nên cần bối cảnh để xác định đúng thế kỷ.

Những ai thích có bộ mười hai con giáp hoặc tượng tuổi để bày hay tặng có thể xem mục linh vật phong thuỷ của Vật Phẩm Phong Thủy; với nhà có trẻ nhỏ, nên chọn tượng đủ lớn để bé không nuốt được và đặt ở chỗ vững.

Câu hỏi thường gặp

❓ Câu hỏi thường gặp

Lục thập hoa giáp là gì?
Là vòng 60 tổ hợp can chi, bắt đầu từ Giáp Tý và kết thúc ở Quý Hợi. Sau 60 năm, 60 tháng hay 60 ngày, can chi lặp lại.
Vì sao không có tổ hợp Giáp Sửu?
Vì can và chi đi song song mỗi bước một nấc, nên can dương luôn đi với chi dương. Giáp là dương còn Sửu là âm nên không bao giờ ghép với nhau.
Tính can chi năm thế nào?
Lấy năm dương lịch trừ 4, chia 10 lấy dư ra can (0 là Giáp), chia 12 lấy dư ra chi (0 là Tý). Ví dụ 1984 ra Giáp Tý.
Can chi ngày có bị ảnh hưởng bởi tháng nhuận không?
Không. Can chi ngày chạy liên tục, không phụ thuộc tháng đủ thiếu hay năm nhuận, nên tính được bằng số ngày Julius.
Mệnh nạp âm là gì?
Là hành được gán cho từng cặp can chi trong vòng 60, như Giáp Tý là Hải trung kim. Đây là nguồn của cách nói mệnh Kim, mệnh Hỏa theo năm sinh.
#cách tính can chi #can chi năm #can chi ngày #giáp tý #lịch pháp phương đông #lục thập hoa giáp #nạp âm #thập can #thập nhị chi

📖 Bài liên quan

← Tất cả bài viết
💬 📞