Âm dương lịch là gì: vì sao lịch ta không phải lịch âm thuần và cách nó khớp mặt trăng với mặt trời
Trả lời ngắn: lịch ta là âm dương lịch, không phải lịch âm thuần. Tháng được tính theo tuần trăng, mùng một là ngày trăng mới (ngày sóc); nhưng năm được giữ khớp với mặt trời bằng cách thêm tháng nhuận dựa trên tiết khí. Lịch âm thuần như lịch Hồi giáo không có tháng nhuận nên trôi dần qua các mùa; lịch ta thì Tết luôn rơi vào cuối đông đầu xuân.
Hiểu đúng bản chất này rất quan trọng với mọi môn lý học, vì can chi tháng, tứ trụ, tử vi đều dựa trên lịch. Nhầm lịch là nhầm từ gốc.
Ba đơn vị tự nhiên không chia hết cho nhau
Mọi lịch đều cố gắng khớp ba nhịp tự nhiên:
- Ngày: một vòng quay của trái đất.
- Tháng giao hội: từ trăng mới đến trăng mới, trung bình khoảng 29,53 ngày.
- Năm chí tuyến: từ xuân phân đến xuân phân, khoảng 365,24 ngày.
Mười hai tháng trăng chỉ được khoảng 354,37 ngày, hụt gần 11 ngày so với một năm mặt trời. Sau ba năm hụt khoảng 32,6 ngày, tức hơn một tháng. Lịch dương phương Tây bỏ hẳn mặt trăng để giữ mùa. Lịch Hồi giáo bỏ hẳn mặt trời để giữ trăng. Âm dương lịch chọn cách khó hơn: giữ cả hai bằng tháng nhuận.
Mùng một là ngày gì
Trong âm dương lịch phương Đông, mùng một là ngày chứa thời điểm sóc, tức lúc mặt trăng nằm giữa trái đất và mặt trời theo kinh độ hoàng đạo. Lúc ấy trăng không nhìn thấy được. Rằm thường là ngày 15, đôi khi là 16, vì thời điểm trăng tròn không rơi đúng giữa tháng.
Đây là điểm khác với nhiều lịch trăng cổ dựa vào việc nhìn thấy vành trăng non bằng mắt. Lịch ta tính sóc bằng thiên văn, nên có thể lập trước nhiều năm mà không cần người ra đồng ngắm trăng.
Tháng đủ, tháng thiếu không theo quy luật cố định
Vì tháng giao hội dài khoảng 29,53 ngày, lịch phải xen tháng 30 ngày (tháng đủ) và 29 ngày (tháng thiếu). Nhưng không có quy tắc kiểu "tháng chẵn đủ, tháng lẻ thiếu". Quỹ đạo mặt trăng là elip và bị nhiễu, nên độ dài thật của mỗi tuần trăng dao động khoảng hơn sáu tiếng quanh mức trung bình. Lịch hiện đại tính sóc thực (định sóc) cho từng tháng, nên có lúc hai tháng đủ liền nhau, có lúc hai tháng thiếu liền nhau.
Hệ quả đời thường: không thể đoán tháng chạp năm nay có ngày 30 hay không mà phải tra lịch. Câu hỏi "năm nay có ba mươi Tết không" chính là câu hỏi tháng chạp đủ hay thiếu.
Mặt trời giữ năm bằng tiết khí
Phần "dương" của lịch ta là 24 tiết khí, chia đường đi biểu kiến của mặt trời thành 24 đoạn, mỗi đoạn 15 độ. Trong đó 12 điểm gọi là trung khí, như Vũ thủy, Xuân phân, Hạ chí, Đông chí.
Quy tắc đặt tên tháng dựa trên trung khí: tháng chứa Đông chí là tháng 11, tháng chứa Đại hàn là tháng 12, tháng chứa Vũ thủy là tháng Giêng, và cứ thế. Tháng nào không chứa trung khí thì là tháng nhuận. Nhờ cơ chế này, tên tháng luôn bám sát mùa thật, và Tết Nguyên đán luôn rơi trong khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 dương lịch.
Múi giờ quyết định ngày Tết
Đây là chỗ nhiều người bất ngờ nhất. Thời điểm sóc là một khoảnh khắc thiên văn duy nhất trên toàn thế giới, nhưng nó rơi vào ngày nào lại tuỳ múi giờ. Nếu sóc xảy ra lúc 23 giờ 30 theo giờ Hà Nội (UTC+7) thì đã là 0 giờ 30 hôm sau theo giờ Bắc Kinh (UTC+8). Mùng một ở hai nước sẽ lệch nhau một ngày.
Từ cuối thập niên 1960, miền Bắc Việt Nam chuyển sang lập lịch theo múi giờ UTC+7, trong khi trước đó lịch ta thường theo sát lịch Trung Quốc. Tài liệu lịch pháp hay nhắc hai trường hợp: Tết Mậu Thân, miền Bắc và miền Nam ăn Tết lệch nhau một ngày vì hai miền dùng hai bản lịch khác nhau; và Tết Ất Sửu, lịch Việt Nam và Trung Quốc lệch nhau tới một tháng vì cách xác định tháng 11, 12 khác nhau theo múi giờ.
Điều này cho thấy lịch ta là sản phẩm tính toán thiên văn theo kinh độ nơi dùng lịch, không phải bản chép lại từ nước khác.
Năm âm lịch bắt đầu khi nào
Có hai mốc "đầu năm" hay bị lẫn:
| Mốc | Cách xác định | Dùng trong |
|---|---|---|
| Tết Nguyên đán | Mùng một tháng Giêng, theo trăng | Đời sống, tuổi theo năm âm lịch, tử vi |
| Lập xuân | Mặt trời ở 315 độ hoàng kinh, khoảng ngày 4 tháng 2 dương lịch | Bát tự, nhiều phép phong thuỷ |
Hai mốc có thể cách nhau tới vài tuần. Người sinh giữa Tết và Lập xuân, hoặc giữa Lập xuân và Tết, sẽ có năm can chi khác nhau tuỳ môn. Tử vi thường lấy Tết, bát tự lấy Lập xuân. Không môn nào sai; chúng chỉ dùng hai quy ước khác nhau.
Những hiểu lầm phổ biến về lịch ta
- "Lịch âm là lịch của nông dân": người làm ruộng thật ra dựa vào tiết khí, tức phần mặt trời của lịch, vì mùa vụ theo nắng chứ không theo trăng.
- "Lịch âm không chính xác bằng lịch dương": mỗi lịch giữ đúng nhịp nó chọn. Âm dương lịch giữ được cả trăng và mùa, chỉ phức tạp hơn khi tính.
- "Năm nhuận âm lịch có 13 tháng nên dài gấp đôi": năm nhuận âm lịch có 383 hoặc 384 ngày, dài hơn năm thường khoảng một tháng.
- "Tra lịch nào cũng như nhau": lịch in theo giờ Trung Quốc có thể lệch ngày mùng một so với lịch Việt Nam. Tra ngày giỗ, ngày lễ nên dùng lịch lập theo giờ Việt Nam.
Lịch và lý học: vì sao nền móng này quan trọng
Tử vi đẩu số dùng ngày tháng âm lịch để an sao. Bát tự dùng tiết khí để định tháng. Phong thuỷ chọn ngày dùng can chi ngày, vốn chạy liên tục không phụ thuộc trăng. Ba môn, ba cách dùng lịch khác nhau. Một lá số lập bằng phần mềm dùng lịch Trung Quốc cho người sinh ở Việt Nam có thể sai ngày âm, và từ đó sai cả lá số.
Ai cần một cuốn lịch vạn niên in giấy để tra, nên chọn bản ghi rõ lập theo múi giờ Việt Nam; có thể xem các đầu sách tại mục sách lý học của Vật Phẩm Phong Thủy và kiểm vài ngày Tết quen thuộc trước khi dùng.