Lý Học Đông Phương Dịch · tử vi · bát tự
💬
Lập một bàn Kỳ Môn Độn Giáp từng bước: tiết khí, tam nguyên, số cục, trực phù trực sử qua một ví dụ

Lập một bàn Kỳ Môn Độn Giáp từng bước: tiết khí, tam nguyên, số cục, trực phù trực sử qua một ví dụ

✍ Lý Học Đông Phương 📅 13/10/2026 ⏱ 12 phút đọc 👀 1 lượt xem
Tám bước lập một bàn Kỳ Môn theo phép chuyển bàn, đi trọn ví dụ dương độn cục 1 giờ Bính Dần, kèm bảng số cục và những chỗ hay tính sai.

Trả lời ngắn: lập một bàn Kỳ Môn Độn Giáp là chuỗi tám bước nối nhau: xác định âm độn hay dương độn, tìm nguyên theo ngày phù đầu, tra số cục theo tiết khí, bày lục nghi tam kỳ lên địa bàn, tìm tuần thủ của giờ, định trực phù và trực sử, rồi xoay sao, cửa và thần lên thiên bàn. Sai một bước đầu thì mọi bước sau sai theo. Bài này đi trọn một ví dụ để người đọc hiểu cấu trúc, không phải để đoán việc.

Một lưu ý trước: Kỳ Môn có nhiều phái, mỗi phái lập bàn hơi khác. Bài này theo phép phổ biến nhất trong sách phổ thông, gọi là chuyển bàn kết hợp cách tính nguyên theo phù đầu. Khi đối chiếu với phần mềm hay sách khác mà thấy lệch, điều đầu tiên cần hỏi là hai bên có cùng phái không, chứ chưa vội kết luận ai sai.

Cần chuẩn bị những dữ kiện gì

Bài trước về cấu trúc bàn cửu cung, bát môn, cửu tinh, bát thần đã giới thiệu từng thành phần. Bài này ráp chúng lại. Trước khi đặt bút, cần có đủ bốn thứ:

  1. Thời điểm cần lập bàn, quy về giờ mặt trời nơi mình đứng, không chỉ giờ đồng hồ.
  2. Tiết khí đang chạy vào thời điểm đó, kèm giờ giao tiết nếu sát ngày chuyển tiết. Cách chia tiết khí đã có ở bài hai mươi bốn tiết khí.
  3. Can chi của ngày, lấy từ lịch vạn niên đáng tin.
  4. Can chi của giờ, tính bằng phép Ngũ thử độn từ can ngày, đã trình bày trong bài can chi tháng và can chi giờ.

Ba thứ sau đều kiểm chứng được bằng lịch và thiên văn. Đó là phần chắc chắn nhất của cả bàn Kỳ Môn. Mọi phần diễn giải về sau đều đứng trên nền này, nên đáng bỏ công kiểm cho kỹ.

Bước 1: dương độn hay âm độn

Năm được chia làm hai nửa theo hai điểm chí. Từ Đông chí đến trước Hạ chí, ngày dài dần, dương khí lên, dùng dương độn: các thành phần đi thuận theo số cung. Từ Hạ chí đến trước Đông chí, ngày ngắn dần, dùng âm độn: các thành phần đi nghịch.

Đây là chỗ thấy rõ Kỳ Môn đứng trên thiên văn. Hai điểm chí là mốc thật của quỹ đạo, đo được bằng bóng nắng. Còn việc gọi nửa năm này là dương, nửa kia là âm, là quy ước triết học gắn lên mốc thật đó.

Bước 2: tìm nguyên theo ngày phù đầu

Mỗi tiết khí dài khoảng mười lăm ngày, được chia thành ba nguyên: thượng, trung, hạ, mỗi nguyên năm ngày, tức sáu mươi giờ can chi. Muốn biết thời điểm đang ở nguyên nào, tìm ngày phù đầu: ngày Giáp hoặc ngày Kỷ gần nhất tính lùi về trước, kể cả chính hôm đó.

Chi của ngày phù đầu quyết định nguyên:

  • Phù đầu mang chi Tý, Ngọ, Mão, Dậu: thượng nguyên.
  • Phù đầu mang chi Dần, Thân, Tỵ, Hợi: trung nguyên.
  • Phù đầu mang chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi: hạ nguyên.

Ví dụ: hôm nay là ngày Đinh Mão. Lùi lại tìm ngày Giáp hoặc Kỷ gần nhất thì gặp Giáp Tý, cách ba ngày. Phù đầu là Giáp Tý, chi Tý, vậy là thượng nguyên. Nếu hôm nay là Tân Mùi, lùi lại gặp Kỷ Tỵ, chi Tỵ, là trung nguyên.

Chỗ các phái tách nhau: siêu thần, tiếp khí

Ngày phù đầu và ngày giao tiết khí hiếm khi trùng nhau. Phép sách bổ đơn giản lấy tiết khí đang chạy cộng với nguyên theo phù đầu, không bận tâm phù đầu đến trước hay sau tiết khí. Phép siêu thần tiếp khí thì theo dõi độ lệch giữa phù đầu và tiết khí: khi phù đầu đến sớm thì gọi là siêu thần, đến muộn gọi là tiếp khí, và khi lệch quá xa thì đặt một tiết nhuận, lặp lại cục của tiết trước. Hai phép cho cùng một kết quả ở phần lớn các ngày, nhưng có thể khác cục ở những ngày quanh lúc giao tiết. Đây là nguồn lệch số một giữa các phần mềm.

Bước 3: tra số cục theo tiết khí

Có tiết khí và nguyên rồi, tra số cục. Bảng dưới theo ca quyết phổ thông, mỗi ô ghi ba số ứng với thượng, trung, hạ nguyên. Khi chép bảng này từ bất cứ đâu, kể cả từ đây, nên đối chiếu với một sách in đáng tin, vì sai một chữ là sai cả bàn.

Dương độn: tiết khíThượng, trung, hạÂm độn: tiết khíThượng, trung, hạ
Đông chí, Kinh trập1, 7, 4Hạ chí, Bạch lộ9, 3, 6
Tiểu hàn2, 8, 5Tiểu thử8, 2, 5
Đại hàn, Xuân phân3, 9, 6Đại thử, Thu phân7, 1, 4
Lập xuân8, 5, 2Lập thu2, 5, 8
Vũ thủy9, 6, 3Xử thử1, 4, 7
Thanh minh, Lập hạ4, 1, 7Hàn lộ, Lập đông6, 9, 3
Cốc vũ, Tiểu mãn5, 2, 8Sương giáng, Tiểu tuyết5, 8, 2
Mang chủng6, 3, 9Đại tuyết4, 7, 1

Nhìn bảng sẽ thấy một quy luật: trong một tiết, ba số cách nhau sáu đơn vị theo vòng chín. Dương độn cộng dần, âm độn trừ dần. Biết quy luật này thì tự kiểm được bảng mình chép có lỗi hay không.

Bước 4: bày lục nghi tam kỳ lên địa bàn

Địa bàn là chín cung Lạc Thư đứng yên. Trình tự chín can cần bày luôn cố định: Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý (lục nghi), rồi Đinh, Bính, Ất (tam kỳ, đi ngược). Mậu đặt vào cung có số bằng số cục. Dương độn thì các can tiếp theo đi thuận số cung 1, 2, 3… tới 9 rồi quay về 1. Âm độn thì đi nghịch 9, 8, 7…

Với dương độn cục 1, địa bàn như sau:

CungQuái, phươngCan địa bàn
1Khảm, BắcMậu
2Khôn, Tây NamKỷ
3Chấn, ĐôngCanh
4Tốn, Đông NamTân
5Trung cungNhâm
6Càn, Tây BắcQuý
7Đoài, TâyĐinh
8Cấn, Đông BắcBính
9Ly, NamẤt

Vắng mặt trong bảng là can Giáp. Đó chính là nghĩa của chữ "độn Giáp": Giáp không có chỗ riêng mà ẩn dưới một trong sáu nghi.

Bước 5: tìm tuần thủ của giờ

Vòng sáu mươi can chi chia làm sáu tuần, mỗi tuần mở đầu bằng một can Giáp. Giáp của mỗi tuần ẩn dưới một nghi cố định:

TuầnGồm mười giờ từGiáp ẩn dưới
Giáp TýGiáp Tý đến Quý DậuMậu
Giáp TuấtGiáp Tuất đến Quý MùiKỷ
Giáp ThânGiáp Thân đến Quý TỵCanh
Giáp NgọGiáp Ngọ đến Quý MãoTân
Giáp ThìnGiáp Thìn đến Quý SửuNhâm
Giáp DầnGiáp Dần đến Quý HợiQuý

Giờ Bính Dần thuộc tuần Giáp Tý, vì đi Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần. Tuần thủ là Mậu.

Bước 6: định trực phù và trực sử

Mỗi cung có một sao và một cửa gốc. Sao gốc: cung 1 Thiên Bồng, 2 Thiên Nhuế, 3 Thiên Xung, 4 Thiên Phụ, 5 Thiên Cầm, 6 Thiên Tâm, 7 Thiên Trụ, 8 Thiên Nhậm, 9 Thiên Anh. Cửa gốc: 1 Hưu, 8 Sinh, 3 Thương, 4 Đỗ, 9 Cảnh, 2 Tử, 7 Kinh, 6 Khai; trung cung không có cửa riêng, phái chuyển bàn thường gửi sang cung 2.

Tìm nghi tuần thủ trên địa bàn. Sao gốc của cung đó là trực phù, cửa gốc của cung đó là trực sử. Trong ví dụ, Mậu nằm ở cung 1, nên trực phù là Thiên Bồng, trực sử là Hưu môn.

Bước 7: xoay sao lên thiên bàn

Trực phù rời cung gốc, đi đến cung mà can giờ đang nằm trên địa bàn. Giờ Bính Dần, can Bính ở cung 8, vậy Thiên Bồng đến cung 8, mang theo can Mậu của nó. Tám sao còn lại giữ nguyên thứ tự trên vòng tám cung ngoài và dịch theo cùng số bước. Vòng tám cung theo chiều kim đồng hồ là 1, 8, 3, 4, 9, 2, 7, 6. Thiên Bồng đi từ 1 sang 8 là một bước, nên mọi sao đều tiến một bước, mỗi sao mang theo can địa bàn của cung gốc mình. Thiên Cầm ở trung cung đi kèm Thiên Nhuế.

Nếu giờ là giờ Giáp, can giờ không có trên bàn, thì dùng chính nghi tuần thủ để tìm chỗ đến. Đây là trường hợp trực phù đứng yên tại chỗ, các sách gọi là phục ngâm.

Bước 8: xoay cửa và đặt thần

Trực sử không đi theo can mà đi theo số giờ. Bắt đầu từ cung gốc của trực sử ứng với giờ tuần thủ, đếm mỗi giờ một cung theo số Lạc Thư, dương độn thì thuận, âm độn thì nghịch, kể cả cung 5. Giờ Giáp Tý ở cung 1, Ất Sửu cung 2, Bính Dần cung 3. Vậy Hưu môn đến cung 3. Trên vòng tám cung, từ 1 sang 3 là hai bước, nên mọi cửa tiến hai bước.

Bát thần đặt sau cùng. Thần Trực phù đứng cùng cung với sao trực phù, rồi lần lượt Đằng Xà, Thái Âm, Lục Hợp, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Cửu Địa, Cửu Thiên. Dương độn đi theo chiều kim đồng hồ trên vòng tám cung, âm độn đi ngược. Một số phái dùng Câu Trần, Chu Tước ở hai vị trí Bạch Hổ, Huyền Vũ.

Bàn hoàn chỉnh của ví dụ

Ghép tám bước lại, dương độn cục 1, giờ Bính Dần cho bàn sau:

CungSao thiên bàn (can mang theo)CửaThầnCan địa bàn
1 KhảmThiên Tâm (Quý)KinhCửu ThiênMậu
8 CấnThiên Bồng (Mậu)KhaiTrực PhùBính
3 ChấnThiên Nhậm (Bính)HưuĐằng XàCanh
4 TốnThiên Xung (Canh)SinhThái ÂmTân
9 LyThiên Phụ (Tân)ThươngLục HợpẤt
2 KhônThiên Anh (Ất)ĐỗBạch HổKỷ
7 ĐoàiThiên Nhuế, Thiên Cầm (Kỷ, Nhâm)CảnhHuyền VũĐinh
6 CànThiên Trụ (Đinh)TửCửu ĐịaQuý

Ba phép tự kiểm nhanh. Một: sao trực phù phải nằm đúng trên cung chứa can giờ ở địa bàn; ở đây Thiên Bồng mang Mậu nằm trên Bính, đúng. Hai: thứ tự sao và thứ tự cửa đi quanh vòng không bị đảo. Ba: cửa trực sử đến đúng cung theo số giờ đếm từ tuần thủ.

Những chỗ người tự lập hay sai

  • Lấy tháng âm lịch thay cho tiết khí. Kỳ Môn chạy theo tiết khí, tháng âm lịch không dùng ở đây.
  • Dùng giờ đồng hồ thay giờ mặt trời. Với người ở xa kinh tuyến chuẩn của múi giờ, chênh lệch có thể đẩy sang canh giờ khác.
  • Đếm trực sử theo vòng tám cung thay vì theo số Lạc Thư có cả cung 5, hoặc ngược lại, tuỳ phái mà không biết mình đang theo phái nào.
  • Quên Thiên Cầm hoặc gửi nó vào cung khác với phái mình chọn.
  • Trộn phép tính nguyên của hai phái: lấy tiết khí theo siêu thần nhưng nguyên theo sách bổ.
  • Tin phần mềm tuyệt đối mà không biết phần mềm cài phái nào, múi giờ nào.

Lập được bàn chưa phải là đọc được bàn

Đi hết tám bước, người đọc sẽ thấy phần lập bàn là thuần cơ học, như giải một bài toán sắp xếp. Phần khó, và cũng là phần không có chuẩn chung, là diễn giải: cửa này gặp sao kia ở cung nọ thì nghĩa gì, cặp can thiên bàn trên địa bàn thành "cách" tốt hay xấu. Mỗi sách cổ một bảng, mỗi thầy một cách phối. Vì thế bài vì sao tam thức ít người học tới nơi đã nói: rào cản lớn nhất không nằm ở tính toán mà ở chỗ không có thước đo đúng sai.

Giá trị của việc tự lập một bàn bằng tay nằm ở chỗ khác. Nó cho thấy tư duy hệ thống của người xưa: lấy thời gian thật, chia theo nhịp mùa, chiếu lên không gian chín cung, rồi cho các lớp ký hiệu chồng lên nhau. Hiểu được cỗ máy đó là hiểu một phần lịch sử tư tưởng, dù có tin vào lời đoán hay không.

Khi nào nên dừng lại và hỏi người có chuyên môn

Có những dịch vụ dùng bàn Kỳ Môn để "chọn giờ ký hợp đồng", "chọn hướng đặt bàn làm việc để thắng thầu", thậm chí "chọn giờ mua cổ phiếu". Với những quyết định có tiền bạc, pháp lý hay sức khoẻ đi kèm, bàn Kỳ Môn không thay được người có chuyên môn: hợp đồng thì hỏi luật sư, đầu tư thì tự lập kế hoạch tài chính và hiểu rủi ro, sức khoẻ thì đi bác sĩ. Dấu hiệu đáng ngờ là người bán dịch vụ vừa phán một cục xấu vừa chào ngay cách hoá giải trả phí, giục làm trong ngày, hoặc dặn đừng hỏi ai khác.

Nếu muốn học tiếp một cách nghiêm túc, nên tìm thầy chịu giải thích phái mình theo, chịu cho học trò tự lập bàn rồi đối chiếu, và không hứa hẹn kết quả. Người đọc thích đối chiếu bằng sách giấy có thể xem các đầu sách lý học tại mục sách phong thủy của Vật Phẩm Phong Thủy, và nên ưu tiên bản có in bảng cục, bảng tuần thủ rõ ràng để tự kiểm từng bước.

Câu hỏi thường gặp

❓ Câu hỏi thường gặp

Lập bàn Kỳ Môn có cần tháng âm lịch không?
Không. Kỳ Môn dùng tiết khí để định âm dương độn và số cục, dùng can chi ngày để tìm nguyên và can chi giờ để xoay bàn.
Vì sao phần mềm Kỳ Môn này ra cục khác phần mềm kia?
Thường do khác phái tính nguyên, như sách bổ hay siêu thần tiếp khí, hoặc khác cài đặt múi giờ. Quanh ngày giao tiết hai phép hay cho cục khác nhau.
Chữ độn Giáp nghĩa là gì?
Can Giáp không có cung riêng trên bàn mà ẩn dưới một trong sáu nghi Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý tuỳ theo tuần. Vì vậy gọi là độn Giáp, tức Giáp ẩn đi.
Trực phù và trực sử khác nhau thế nào?
Trực phù là sao gốc của cung chứa nghi tuần thủ, đi theo can giờ. Trực sử là cửa gốc của cung đó, đi theo số giờ đếm từ đầu tuần.
Tự lập bàn Kỳ Môn có giúp chọn giờ đầu tư hay ký hợp đồng không?
Bàn Kỳ Môn là di sản tư tưởng, không thay được tư vấn chuyên môn. Việc tiền bạc nên tự lập kế hoạch tài chính, việc hợp đồng nên hỏi luật sư.
#cửu cung #kỳ môn độn giáp #lập bàn kỳ môn #lục nghi tam kỳ #số cục #tam nguyên #tam thức #tiết khí #trực phù #trực sử

📖 Bài liên quan

← Tất cả bài viết
💬 📞