Tượng số và nghĩa lý: hai dòng đọc Kinh Dịch từ Kinh Phòng, Vương Bật đến Trình Di, Chu Hy
Trả lời ngắn: hơn hai nghìn năm đọc Kinh Dịch có thể gom vào hai dòng lớn. Dòng tượng số coi quẻ là hệ ký hiệu và con số gắn với lịch, tiết khí, ngũ hành; tiêu biểu là các nhà Dịch đời Hán như Mạnh Hỷ, Kinh Phòng, Ngu Phiên. Dòng nghĩa lý coi quẻ là phương tiện để nói đạo lý và tình thế con người; mở đầu rõ rệt bởi Vương Bật thời Ngụy, đến Trình Di đời Tống thì thành đỉnh. Chu Hy tìm cách dung hoà hai dòng. Biết hai dòng này là biết vì sao cùng một quẻ mà sách này giảng một kiểu, sách kia giảng một kiểu.
Bài Kinh Dịch hình thành thế nào đã nhắc tên hai phái trong vài dòng. Bài này đi vào từng nhân vật, từng công cụ họ dùng, rồi lấy một quẻ cụ thể để đọc qua hai lăng kính.
Vì sao Dịch học tách thành hai dòng
Bản thân Chu Dịch đã có hai lớp. Lớp hình: sáu vạch âm dương, quẻ trên quẻ dưới. Lớp lời: lời quẻ, lời hào, rồi Thập Dực của truyền thống Nho gia mà bài Khổng Tử và Thập Dực đã trình bày. Hệ từ truyện nói thánh nhân "lập tượng để nói hết ý", tức tượng là phương tiện, ý là mục đích. Nhưng một khi đã có tượng và số, người ta có thể đi sâu vào chính tượng và số như một hệ thống tự thân.
Đến đời Hán, khi học thuật gắn chặt với lịch pháp, âm dương ngũ hành và việc giải thích thiên tai dị tượng cho triều đình, dòng tượng số phát triển mạnh. Sang thời Nguỵ Tấn, khi giới trí thức chán lối chú giải rườm rà và quay về triết lý, dòng nghĩa lý trỗi dậy. Hai dòng phản ánh hai nhu cầu khác nhau của hai thời đại.
Mạnh Hỷ và quái khí: quẻ trở thành lịch
Mạnh Hỷ đời Tây Hán được ghi nhận gắn với thuyết quái khí: phối các quẻ với tháng, tiết khí và các hầu trong năm. Phần dễ hình dung nhất là mười hai quẻ tiêu tức, còn gọi là mười hai tích quái, biểu diễn dương khí lên xuống trong năm:
| Tháng âm lịch | Quẻ | Hình ảnh hào |
|---|---|---|
| Mười một (có Đông chí) | Phục | Một hào dương ở dưới cùng |
| Mười hai | Lâm | Hai hào dương |
| Giêng | Thái | Ba hào dương |
| Hai | Đại Tráng | Bốn hào dương |
| Ba | Quải | Năm hào dương |
| Tư | Càn | Sáu hào dương |
| Năm (có Hạ chí) | Cấu | Một hào âm ở dưới cùng |
| Sáu | Độn | Hai hào âm |
| Bảy | Bĩ | Ba hào âm |
| Tám | Quan | Bốn hào âm |
| Chín | Bác | Năm hào âm |
| Mười | Khôn | Sáu hào âm |
Bảng này đẹp vì trực quan: dương khí lên từ đáy như ngày dài dần sau Đông chí, đầy ở Càn, rồi âm khí lên từ đáy sau Hạ chí. Đây là quan sát mùa thật được mã hoá bằng hình quẻ. Nó cũng là chỗ Dịch học nối thẳng sang lịch pháp mà các bài về tiết khí trên trang này đã nói.
Kinh Phòng: bát cung, thế ứng và nạp giáp
Kinh Phòng, cũng đời Tây Hán, học trò trong dòng Dịch của Tiêu Diên Thọ theo ghi chép sử, để lại ảnh hưởng lớn nhất cho bói Dịch đời sau. Ba công cụ chính gắn với tên ông:
- Bát cung: xếp sáu mươi bốn quẻ thành tám nhóm, mỗi nhóm đứng đầu bởi một quẻ thuần như Càn, Khôn. Từ quẻ đầu, lần lượt đổi hào từ dưới lên được các quẻ nhất thế, nhị thế, tam thế, tứ thế, ngũ thế, rồi hai quẻ du hồn và quy hồn.
- Thế ứng: trong mỗi quẻ chọn một hào làm "thế", chỉ người hỏi, và một hào làm "ứng", chỉ đối tượng.
- Nạp giáp: gán thiên can, địa chi vào từng quẻ đơn và từng hào. Càn nạp Giáp và Nhâm, Khôn nạp Ất và Quý, Chấn nạp Canh, Tốn nạp Tân, Khảm nạp Mậu, Ly nạp Kỷ, Cấn nạp Bính, Đoài nạp Đinh.
Khi hào đã mang địa chi, mỗi hào có ngũ hành, rồi có quan hệ lục thân với hành của cung. Đây chính là bộ khung mà phép bói Lục hào, hay Hỏa Châu Lâm, dùng tới ngày nay. Phần lớn người gieo quẻ bằng ba đồng xu đang dùng công cụ thời Kinh Phòng mà không biết tên ông.
Sử chép Kinh Phòng dùng học thuật của mình để bàn chính sự, giải thích thiên tai thành lời can gián, và cuối cùng bị hại trong tranh chấp triều đình. Câu chuyện ấy cho thấy tượng số Hán không phải trò bói dạo mà gắn với chính trị cao nhất thời đó.
Ngu Phiên và nghệ thuật tìm tượng
Ngu Phiên thời Tam Quốc, nước Ngô, được coi là người tổng kết tượng số Hán. Ông cố gắng chỉ ra mọi chữ trong lời quẻ, lời hào đều có tượng tương ứng trong hình quẻ, dùng nhiều phép như hỗ thể, tức lấy hào giữa ghép thành quẻ mới, quái biến, bán tượng. Cách làm này rất công phu, và cũng lộ ra điểm yếu: khi có quá nhiều phép, phép nào cũng tìm được tượng cho chữ nào, thì việc "tìm thấy" không còn chứng minh được gì.
Vương Bật: quét sạch tượng số
Vương Bật thời Ngụy mất rất trẻ, nhưng hai tác phẩm Chu Dịch chú và Chu Dịch lược lệ đã đổi hướng cả Dịch học. Trong Lược lệ có câu nổi tiếng, đại ý: được ý thì quên tượng, được tượng thì quên lời. Tượng chỉ là cái bẫy để bắt ý; bắt được ý rồi thì không cần ôm khư khư cái bẫy.
Vương Bật chú trọng mấy điều: mỗi quẻ là một "thời", tức một tình thế; mỗi hào là một vị trí trong tình thế đó; hào đắc trung hay không, đắc chính hay không, có ứng với hào nào, đỡ dưới hay cưỡi trên những hào nào thì tính cách hành động ra sao. Đọc Dịch theo ông giống đọc một bản phân tích tình huống hơn là tra một bảng ký hiệu. Chú của Vương Bật, cùng phần Hệ từ do Hàn Khang Bá chú, về sau được Khổng Dĩnh Đạt đời Đường dùng làm nền cho bộ Chu Dịch chính nghĩa, sách học chính thức của khoa cử thời đó.
Trình Di và Chu Hy: nghĩa lý thời Tống
Trình Di, một trong hai anh em họ Trình, viết Trình thị Dịch truyện, giảng Dịch hoàn toàn theo nghĩa lý, lấy đạo đức và hành xử của người quân tử làm trung tâm. Ông không chú phần Hệ từ, và hầu như không bàn bói toán.
Chu Hy kính trọng Trình Di nhưng không đồng ý hoàn toàn. Trong Chu Dịch bản nghĩa, ông nhấn mạnh rằng Dịch vốn là sách bói toán, phải hiểu lời quẻ trong bối cảnh người xưa hỏi việc thì mới hiểu đúng nghĩa gốc. Ông cũng đưa Hà Đồ, Lạc Thư và các đồ tiên thiên của dòng Thiệu Ung vào đầu sách, như bài Hà Đồ, Lạc Thư và Chu Hy đã kể. Vì thế Chu Hy vừa là nhà nghĩa lý vừa mở cửa lại cho tượng số, theo kiểu tượng số Tống chứ không phải tượng số Hán.
Đọc một quẻ qua hai lăng kính: quẻ Phục
Quẻ Phục, Địa Lôi Phục, gồm Khôn trên Chấn dưới: năm hào âm, một hào dương ở đáy. Đây là ví dụ rất tốt vì chính các nhà Dịch đã tranh luận gay gắt quanh nó.
Nhìn theo tượng số
- Phục là tích quái tháng mười một, tháng có Đông chí, lúc dương khí bắt đầu trở lại.
- Trong bát cung của Kinh Phòng, Phục thuộc cung Khôn, là quẻ nhất thế: đổi hào đầu của Khôn thì được Phục.
- Lời Đại tượng nói các tiên vương đến ngày chí thì đóng cửa ải, thương nhân không đi lại. Tượng số đọc đây là quy định lịch lễ quanh Đông chí, khớp với vị trí của quẻ trên lịch.
Nhìn theo nghĩa lý
Lời Thoán truyện có câu: ở quẻ Phục thấy được tâm của trời đất chăng. Vương Bật giảng rằng gốc của trời đất là tĩnh lặng, vô vi; khi động ngưng lại, trở về tĩnh, thì thấy được tâm trời đất. Trình Di phản bác thẳng: các nhà nho trước đều cho tĩnh là chỗ thấy tâm trời đất, mà không biết chính đầu mối của động mới là tâm trời đất. Một hào dương mới sinh, nhỏ nhưng đang lên, đó là sức sống, là đức "sinh sinh" của trời đất.
Hai lời giảng nói về cùng một quẻ, cùng một câu, nhưng mang hai vũ trụ quan: một bên thấm màu Lão Trang, một bên là lý học Tống Nho lấy sự sinh sôi làm trung tâm. Còn tượng số thì đặt quẻ lên lịch, nói chuyện Đông chí. Không cách nào "sai" theo nghĩa thô; mỗi cách trả lời một câu hỏi khác.
Bảng so sánh hai dòng
| Điểm so sánh | Tượng số | Nghĩa lý |
|---|---|---|
| Nhân vật tiêu biểu | Mạnh Hỷ, Kinh Phòng, Ngu Phiên; đời Tống có Thiệu Ung theo hướng khác | Vương Bật, Trình Di; Chu Hy dung hoà |
| Quẻ là gì | Hệ ký hiệu gắn lịch, số, ngũ hành | Một tình thế, một bài học hành xử |
| Công cụ | Quái khí, bát cung, nạp giáp, hỗ thể | Thời, vị, trung chính, ứng |
| Hậu duệ ngày nay | Lục hào, Mai Hoa, các phép bói Dịch | Sách triết học, sách lãnh đạo dựa trên Dịch |
| Điểm mạnh | Chặt chẽ, nối với thiên văn lịch pháp | Gần đời sống, dễ suy ngẫm |
| Điểm yếu | Phép chồng phép, giải thích được mọi thứ | Dễ rời xa nghĩa gốc của văn bản |
Thời Thanh: quay lại đòi Hán Dịch
Đời Thanh, phong trào khảo chứng nổi lên. Một số học giả như Huệ Đống bỏ nhiều công sức thu nhặt và phục dựng các thuyết Dịch đời Hán, cho rằng chúng gần thời cổ hơn nên đáng tin hơn các đồ đời Tống. Bộ Tứ khố toàn thư tổng mục đề yếu tổng kết Dịch học thành "hai phái, sáu tông", tức vẫn lấy tượng số và nghĩa lý làm hai trục chính. Cách chia ấy được dùng tới bây giờ.
Năm bước đọc một quẻ cho trọn hai mặt
- Đọc hình: quẻ trên, quẻ dưới, vị trí hào dương hào âm.
- Đặt lên lịch: quẻ có phải tích quái không, thuộc cung nào trong bát cung.
- Đọc lời: lời quẻ, lời hào nói nguyên văn gì, tránh vội đọc bản diễn giải.
- Đọc một chú nghĩa lý: Vương Bật hoặc Trình Di giảng tình thế này thế nào.
- So hai cách đọc: chỗ nào bổ sung nhau, chỗ nào trả lời hai câu hỏi khác nhau.
Những sai lầm thường gặp
- Cho rằng tượng số là "mê tín", nghĩa lý là "triết học" rồi bỏ hẳn một bên. Tượng số Hán gắn chặt với thiên văn và lịch, là di sản tri thức thật.
- Đọc một cuốn sách bói Lục hào rồi tưởng đó là toàn bộ Kinh Dịch.
- Gán mọi đồ hình Dịch cho thời Phục Hy, trong khi nhiều đồ được biết đến từ đời Tống.
- Trộn lời chú của nhiều nhà mà không ghi nguồn, khiến người đọc không biết đang đọc ai.
Khi nào nên hỏi người có chuyên môn
Muốn đọc nghiêm túc các chú giải cổ, nhất là bản chữ Hán, cần người có chuyên môn Hán học hoặc triết học phương Đông hướng dẫn, vì một chữ hư từ đọc sai có thể đảo nghĩa cả câu. Các khoa Hán Nôm, khoa Triết ở đại học và những nhà nghiên cứu có công trình xuất bản là nơi đáng hỏi. Còn nếu ai đó dùng uy tín "Dịch học Hán đại chính tông" để bán dịch vụ giải hạn hay đặt tên đắt đỏ, đó là chuyện thương mại, không phải học thuật.
Người muốn có bản giấy để đọc song song nhiều nhà chú có thể tìm các đầu sách Dịch tại mục sách phong thủy và lý học của Vật Phẩm Phong Thủy, nên ưu tiên bản ghi rõ dịch từ chú của ai.