Khổng Tử và Thập Dực: vì sao Kinh Dịch thành sách triết của Nho gia
Trả lời ngắn: Thập Dực là mười thiên truyện giải thích Kinh Dịch, gồm Thoán truyện, Tượng truyện, Hệ từ truyện mỗi loại hai thiên, cùng Văn ngôn, Thuyết quái, Tự quái và Tạp quái. Truyền thống cho rằng Khổng Tử soạn Thập Dực, nhưng từ đời Tống đã có học giả nghi ngờ, và nghiên cứu hiện đại thường xem đây là tác phẩm của Nho gia nhiều thế hệ sau Khổng Tử. Dù ai viết, Thập Dực chính là phần đã biến Chu Dịch từ một sách bói thành một kinh điển triết học.
Bài này đi qua quan hệ giữa Khổng Tử với Dịch theo các văn bản đáng tin, giới thiệu từng thiên của Thập Dực, và giải thích vì sao chúng quan trọng với mọi người đọc Dịch hôm nay.
Khổng Tử nói gì về Dịch
Trong Luận ngữ, thiên Thuật nhi, có câu Khổng Tử nói đại ý: nếu cho ta thêm mấy năm, đến năm mươi tuổi học Dịch, thì có thể không mắc lỗi lớn. Câu này được dẫn nhiều nhất để chứng minh Khổng Tử coi trọng Dịch. Các nhà chú giải có tranh luận về cách đọc một chữ trong câu, nhưng cách hiểu phổ biến vẫn là như vậy.
Sử ký, phần Khổng Tử thế gia, chép rằng về già Khổng Tử rất thích Dịch, đọc nhiều đến mức dây da buộc thẻ tre đứt ba lần, gọi là "vi biên tam tuyệt". Đây là hình ảnh đẹp về sự chăm học, dù cũng là ghi chép sau nhiều thế kỷ.
Mười thiên của Thập Dực
| Thiên | Nội dung chính |
|---|---|
| Thoán truyện (thượng, hạ) | Giải thích lời quẻ của Văn Vương |
| Tượng truyện (thượng, hạ) | Giải thích hình tượng quẻ và hào, rút bài học cho người quân tử |
| Hệ từ truyện (thượng, hạ) | Bàn khái quát về nguồn gốc, triết lý và cách dùng Dịch |
| Văn ngôn | Giảng sâu hai quẻ Càn và Khôn |
| Thuyết quái | Giải thích tám quẻ đơn và các tượng của chúng |
| Tự quái | Giải thích thứ tự sáu mươi tư quẻ |
| Tạp quái | So sánh các cặp quẻ bằng câu ngắn gọn |
Chữ "dực" là cánh. Gọi là Thập Dực vì mười thiên này được ví như mười chiếc cánh giúp phần kinh bay lên, tức giúp người đọc hiểu được kinh.
Hệ từ: trái tim triết học của Dịch
Trong mười thiên, Hệ từ truyện có ảnh hưởng triết học lớn nhất. Ở đây xuất hiện những ý nổi tiếng như một âm một dương gọi là đạo, Dịch có Thái cực sinh ra lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Cũng ở Hệ từ có ý rằng Dịch là "cùng thì biến, biến thì thông, thông thì lâu dài".
Những câu này trở thành nền tảng cho vũ trụ luận của Nho gia đời sau, đặc biệt là Tống Nho. Không có Hệ từ, khó tưởng tượng được Chu Đôn Di viết Thái cực đồ thuyết hay Chu Hy dựng hệ thống lý học của mình.
Tượng truyện: từ quẻ đến đạo làm người
Tượng truyện có một công thức quen thuộc: mô tả hình tượng của quẻ, rồi rút ra bài học "người quân tử lấy đó mà...". Ví dụ quen thuộc nhất là quẻ Càn với ý trời vận hành mạnh mẽ, người quân tử tự cường không ngừng, và quẻ Khôn với ý đất dày, người quân tử lấy đức dày mà chở muôn vật.
Đây là bước chuyển then chốt: quẻ không chỉ để hỏi việc lành dữ, mà để soi vào cách sống. Một người không bao giờ bói vẫn có thể đọc Tượng truyện như một bộ châm ngôn tu dưỡng.
Tranh luận về quyền tác giả
Đời Tống, Âu Dương Tu viết sách nêu nghi vấn rằng Hệ từ, Văn ngôn và một số thiên khác không thể do Khổng Tử viết, vì có chỗ mâu thuẫn và văn phong không giống. Từ đó cuộc tranh luận kéo dài đến hiện đại. Nhiều học giả ngày nay cho rằng Thập Dực được soạn trong khoảng Chiến Quốc đến đầu Hán, bởi các thế hệ học trò và người kế thừa tư tưởng Nho gia, có pha trộn cả tư tưởng Đạo gia và âm dương gia.
Bản chép trên lụa ở Mã Vương Đôi có những thiên truyện không có trong bản truyền thế, trong đó có đoạn kể Khổng Tử trò chuyện về Dịch với học trò. Phát hiện này làm cuộc tranh luận thêm phong phú, nhưng chưa khép lại.
Sách bói hay sách triết
Tuân Tử, một đại Nho thời Chiến Quốc, có câu nổi tiếng: người giỏi Dịch thì không bói. Ý ông là hiểu sâu đạo lý của Dịch thì tự biết nên làm gì, không cần hỏi quẻ. Câu này tóm được bước chuyển mà Thập Dực tạo ra: từ dùng Dịch để đoán việc sang dùng Dịch để hiểu đạo.
Hai cách dùng vẫn song song tồn tại suốt lịch sử. Nhưng truyền thống học thuật Đông Á, kể cả ở Việt Nam, xếp Dịch vào hàng Ngũ kinh chính nhờ phần triết lý ấy.
Đọc Thập Dực hôm nay
Người mới có thể bắt đầu bằng Tượng truyện vì ngắn, dễ hiểu và gắn với đời sống. Sau đó đọc Văn ngôn của hai quẻ Càn Khôn, rồi mới đến Hệ từ. Nên dùng bản có nguyên văn, có chú giải của nhiều nhà để thấy các cách hiểu khác nhau. Đừng vội kết luận câu nào "chắc chắn của Khổng Tử".
Một bản Kinh Dịch tốt kèm đủ Thập Dực là nền tảng cho mọi việc học lý học; có thể tham khảo mục sách lý học và phong thủy, chọn bản có ghi rõ dịch giả.